Archive for Tháng Ba, 2009

CẨM NANG Y HỌC PHỔ THÔNG

Tháng Ba 29, 2009

noi_tiet_va_chuyen_hoa

 

 

nuoi_con_khoe

 

CẨM NANG

BỆNH NỘI TIẾT VÀ CHUYỂN HÓA

                                        CỦA NGƯỜI LỚN

     Có thể nói đây là tài liệu y tế về bệnh nội tiết dành cho mọi người. Ý định của tôi khi biên soạn là phải cố gắng viết có hệ thống, ngắn gọn, ngôn từ dễ hiểu để hướng dẫn giải thích bệnh nhân. Sách nằm trong ý tưởng của chương trình Giáo dục sức khỏe trong Chăm sóc sức khỏe ban đầu (Health education in Primary Health care).

       

           NUÔI CON KHỎE

    CẨM NANG DÀNH CHO CÁC BÀ MẸ

   

   Sách xuất bản đã lâu, nhiều  Sắp tái bản có bổ sung

XÔI ĐẬU QUẢNG FASTFOOD

Tháng Ba 29, 2009

xoidau

ĐAU NỬA ĐẦU. MIGRAINE

Tháng Ba 27, 2009

   ĐAU NỬA ĐẦU: LẮM KIỂU !

  TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện ĐÀ NẴNG)

     Đau đầu là một dấu chứng hay gặp trong y khoa.Tính chất đau đầu nhiều lúc là chìa khóa giúp bác sĩ định hướng, thậm chí chẩn được bệnh. Khi bị  đau đầu cần để ý 7 điểm để tìm bệnh sử: (1) vị trí đau và hướng lan,(2) thời gian đau kéo dài bao lâu,(3) tần suất cơn đau,(4) tính chất của đau, (5) mức độ cơn đau,(6) tiến triển của cơn đau đầu và (7) các dấu hiệu kết hợp với các chức năng khác. Đau đầu có thể khu trú hay lan tỏa và cũng có thể đau do bệnh lý ở bên trong hay phía ngoài sọ não. Đau đầu nguồn gốc trong sọ não thường do kéo dãn hay dịch chuyển các mạch máu hoặc các dây thần kinh; còn đau đầu bên ngoài sọ não là do viêm nhiễm hoặc chèn ép từ các tổ chức lân cận bên ngoài hộp sọ. Một dạng đau đầu hay gặp là chứng bệnh “đau nửa đầu” (migraine); bệnh có tên như thế vì thường chỉ bị đau một bên (nửa đầu), hiếm khi đau cả hai bên cùng một lúc.

    Nguyên nhân đau nửa đầu cho đến hiện nay y học cũng chưa biết thật tường tận. Người ta ghi nhận có sự rối loạn “co và giãn” của các mạch máu ở trong não bộ gây ra cơn đau này. Những nghiên cứu gần đây cho rằng đau nửa đầu là do sự thay đổi hoạt động của các tế bào thần kinh (neurone) có liên quan với chất trung gian dẫn truyền thần kinh serotonin. Đau nửa đầu có liên quan đến yếu tố di truyền và gia đình. Đến 80 phần trăm người bệnh đau nửa đầu trong gia đình nhiều người cùng bị mắc bệnh.

    Những nguyên do khởi phát cơn đau nửa đầu được ghi nhận là: (1) thiếu hoặc mất ngủ, (2) đói ăn hoặc ăn uống thất thường, (3) uống nhiều cà phê, trà, rượu, nước trái cây, (4) hút thuốc lá, (5) ăn quá nhiều sôcôla, bơ, trái cây, (6) stress hoặc bức xúc lo âu, (7) tiếp xúc, làm việc trong môi trường chói ánh sáng, âm thanh cường độ cao, (8) thay đổi cân bằng hócmôn của phụ nữ trong kinh kỳ, (9) thay đổi thời tiết đột ngột và (10) một số loại thuốc, hóa chất (như thuốc chống đau thắt ngực, khói xe hơi…).   

     Thường đau nửa đầu có các dấu hiệu báo trước như (1) rối loạn thị giác: mắt thấy “đom đóm” hoặc những điểm đen “ruồi bay”, nhìn lòe nhòe, mờ mắt, không thấy đường trong tích tắc…(2) chóng mặt (3) nhận thức lẫn lộn (4) nói ngọng (5) tê cứng tay chân hay dị cảm như kiến bò chân tay…nhưng cũng có khi đau nửa đầu bột phát đột ngột chẳng thấy dấu gợi ý gì.

     Trước cơn đau nửa đầu cần được chẩn đoán rõ ràng nguyên nhân với những bằng chứng xác thực (evidence based), đặc biệt khi mới bị “khởi phát lần đầu”. Ngoài thăm khám lâm sàng cũng cần kiểm tra huyết áp, khám mắt, khám tai mũi họng, làm một số xét nghiệm máu, chụp CT hay MRI, đo điện não và có khi cũng phải chọc dò kiểm tra nước tủy sống thêm để chính xác và không bỏ sót.

    

     Điều trị đau nửa đầu gồm có hai phần: dùng thuốc giảm đau và thuốc ngừa các yếu tố khởi phát đau.Hiện nay người ta cũng có thử châm cứu, massage, vật lý trị liệu, thư giãn (biofeedback), dùng cây thuốc, khoáng chất và vitamin.

   

 

 

   

 

THANH LONG họ XƯƠNG RỒNG

Tháng Ba 27, 2009

eztkfcamtuf9vca25abq9ca2g20crca2azru7ca4vzf0kcav0pqmzca5hrw41cawyonw2cazfnctwcayqgtkbcahaclr8cau3nstjca9m9r1xcattoim8cahkwx98cau0y79lcax6xzkbcaq6qcntcaf8zl9r

thanhlong

TRÁI THANH LONG VÀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Tháng Ba 27, 2009

 

 

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

           ĂN THANH LONG ĐƯỢC KHÔNG?

                  TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

    Câu hỏi:

    Mẹ tôi 62 tuổi, phát hiện đái tháo đường, béo phì và rối loạn lipid máu 3 năm nay. Mẹ tôi được điều trị thuốc uống và theo dõi thường xuyên nên hiện nay đường máu tương đối ổn định. Gần đây trên nhiều phương tiện thông tin tôi thấy nông dân chúng ta đang được mùa thanh long và xuất khẩu nhiều, kể cả loại thanh long ruột đỏ mới lai tạo giống được. Tôi  được biết cây thanh long thuộc họ xương rồng; và nghe nói trái thanh long ngoài làm đẹp da chống lão hóa còn có tác dụng trợ tiêu hóa chống béo phì. Vừa qua trên tuổi trẻ tôi có đọc bài báo “ Xương rồng tai thỏ: rau và thuốc” của Tiến sĩ, bài viết rất hay và súc tích, do đó tôi liên hệ hai cây cùng họ xương rồng này với nhau.

     Tôi xin phép hỏi Tiến sĩ một điều: người bị đái tháo đường có béo phì rối loạn lipid máu như mẹ tôi có ăn thanh long được không? Xin cám ơn.

                                                    kieungan67@gmail.com   TP Đà Nẵng.

     Trả lời: 

   Đúng là cây thanh long thuộc họ xương rồng. Nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ; thanh long cũng được trồng ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam ta, nhiều nơi trồng được cây thanh long, tỉnh Bình Thuận là nơi trồng nhiều nhất. Trái thanh long có ba loại: vỏ màu hồng đỏ với ruột trắng chiếm đa số, vỏ màu vàng với ruột trắng và loại vỏ màu hồng đỏ với ruột đỏ.

   Về dinh dưỡng, cứ 100 gam phần ăn được của trái thanh long cung cấp 85-87g nước; 40-60 calo năng lượng; 1.1g đạm; 0.0g chất béo;11.2 g đường chung (0.57g glucose, 3.2g fructose,1.1g chất xơ, 2.7g sorbitol); 0.59g tro; nhiều vitamin và chất khoáng: 0.011mg vitamin A, 3mg vitamin C, 2.8mg vitaminPP, 10.2mg Canxi, 38.9mg Ma-nhê, 6.07mg Sắt, 27.5mg  Phốt-pho, 27.2mg  Kali, 2.9mg Natri. Như vậy so với một số trái cây khác trái thanh long có nhiều chất khoáng hơn; thành phần chất xơ trong trái thanh long gồm loại tan được là pectin và không tan là cellulose nên rất tốt cho người béo phì vốn chiếm hơn một nửa số bệnh nhân đái tháo đường.

    Trong phác đồ điều trị đái tháo đường cần để ý ba khâu liên hệ nhau là: (1) chế độ ăn uống,(2) chế độ vận động thể lực và (3) thuốc điều trị đặc hiệu. Theo nguyên lý dinh dưỡng học thì người đái tháo đường cũng phải ăn đủ lượng và đủ chất như người bình thường; khác biệt chính là người đái tháo đường tuyệt đối không được ăn, uống  đường đơn còn gọi là “đường ngọt” (sugary carbohydrates) riêng các đa đường hayđường bột” khác người đái tháo đường được ăn thoải mái như người bình thường. Để dễ nhớ các nhà nội tiết có đưa thêm hai cách để giúp người đái tháo đường chọn thức ăn là: một là  chỉ số đường huyết ( glycemic index, GI ) của thức ăn, với quy ước GI của glucose là 100 và GI càng thấp càng tốt và hai là  vẽ màu thức ăn như tín hiệu đèn giao thông; thức ăn màu đỏ là không được dùng, màu vàng là dùng hạn chế và màu xanh được dùng theo nhu cầu.

    Trở lại câu hỏi của bạn “ người đái tháo đường có ăn trái thanh long được không?” câu trả lời chắc chắn là được vì 3 lẽ: (1) Hàm lượng đường đơn (đường ngọt) trong trái thanh long rất thấp, 0.57% glucose và 3.2% fructose, nghĩa là ăn 100gam thanh long chỉ có 3.77gam đường đơn trong khi nhu cầu dinh dưỡng bình thường hằng ngày là từ 9 đến 12 gam đường đơn cho mỗi ký-lô cân nặng.(2) Đường fructose là loại đường đơn có chỉ số đường rất thấp dưới số 50 và (3) Trái thanh long cho rất ít năng lượng, 100gam chỉ cho từ 40 đến 60 calo, nhưng thanh long lại chứa khá nhiều chất khoáng và có lắm vitamin.

 

QUẢ NGỌT CHO NGƯỜI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Tháng Ba 26, 2009

traicay

 

TRÁI “NGỌT” CHO

NGƯỜI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG!

  

TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

     Rất nhiều người bị đái tháo thường tự ý “truyền miệng” nhau kiêng ăn giảm uống, thậm chí bỏ bữa ăn. Trái cây bổ dưỡng bị họ xem là thứ “trái cấm”, thứ phải kiên quyết loại ra khỏi danh sách thực phẩm. Đây là một quan điểm hết sức sai lầm, tệ hại vì theo đúng nguyên tắc dinh dưỡng tất cả mọi người, bình thường hay bệnh tật, đều phải ăn uống đủ lượng và đủ chất để đảm bảo đủ năng lượng cho cơ thể hoạt động. Nhấn mạnh đến vai trò vô cùng quan trọng của dinh dưỡng trong y học, các tài liệu hướng dẫn điều trị cho người đái tháo đường luôn luôn nhắc tới một phương châm không ăn uống không được dùng thuốc”.

     Chế độ ăn của mọi người -bình thường hay bị bệnh- đều phải đủ cả bốn thành phần của ô vuông thức ăn: chất đạm (protein), chất bột (carbohydrate), chất béo (fat) và nhóm muối khoáng, vitamin; điểm khác biệt là chế độ ăn của bệnh đái tháo đường là phải hạn chế thành phần đường bột ( starchy carbohydrate ) và cấm tuyệt đối ăn đường ngọt (sugary carbohydrate).

       Để dễ đánh giá một loại thực phẩm trong nhóm “chất bột” có tốt cho người đái tháo đường hay không các nhà dinh dưỡng học đưa ra một chỉ số để tính về tốc độ hấp thu và đưa đường vào máu gọi là “chỉ số đường máu” (glycemic index, GI). Với hệ qui chiếu với đường glucose có GI là 100, các loại thức ăn “chất bột” được xếp vào 3 nhóm: (1) nhóm có chỉ số đường thấp với GI ≤ 55 là nhóm màu xanh (tốt, nên ăn), (2) nhóm có chỉ số đường trung bình với GI từ 56 đến 69 là nhóm màu vàng (vừa, ăn hạn chế), và (3) nhóm có chỉ số đường cao với GI ≥ 70 nhóm màu đỏ (xấu, cấm ăn).  

      Rau, trái cây là nguồn cung cấp chính các chất khoáng và vitamin, tuy là những yếu tố vi lượng nhưng đây cũng là một “ô vuông” quan trọng trong bốn ô thức ăn cơ bản của con người. Do đó, mặc nhiên người bị đái tháo đường cũng cần rau quả như người bình thường mới đảm bảo sự cân đối thành phần thực phẩm. Tất cả loại rau rán chúng ta hiện có đều có chỉ số đường rất thấp, từ 15 đến 40, vì vậy người đái tháo đường nên và có thể dùng “thoải mái” nhiều loại rau trong khẩu phần ăn của mình. Cái khó còn lại là phải chọn lựa các loại trái cây chứa rất ít lượng đường ngọt, thành phần cấm tuyệt đối cho người đái tháo đường, và các loại trái cây này phải có chỉ số đường huyết thấp. May mắn, khi phân tích sinh hóa thành phần dinh dưỡng trái cây, các nhà khoa học phát hiện rằng không phải tất cả mọi trái cây đều có nhiều đường ngọt, hơn nữa có một số loại trái cây lại chứa đường fructose là loại đường ngọt hấp thu rất chậm, với chỉ số đường máu thấp, người đái tháo đường hoàn toàn có thể dùng được trong bữa ăn hằng ngày.

      Vấn đề tìm kiếm một thực phẩm nói chung và loại rau trái nói riêng thích hợp cho người đái tháo đường đến đây quá đơn giản: một là  hoàn toàn yên tâm khi ăn và nên ăn nhiều, ăn tất cả các loại rau chúng ta hiện có và hai là  nên chọn ăn các loại trái cây “ít ngọt”, tốt hơn hết là nên tham khảo trong bảng chỉ số đường của các loại trái cây để chọn loại thích hợp.

          

         Chỉ số đường của trái cây

   (www.lowglycemicdiet.com/fruitsgi.html)

 

 

CHỈ SỐ ĐƯỜNG (GI) CỦA MỘT SỐ TRÁI CÂY

TRÁI CÂY

GI

  1.   Xơ ri       ( Cherries)

22

  2.   Bưởi        ( Grapefruit)

25

  3.   Mận khô  (Prunes)

29

  4.   Bơ khô     ( Apricots, dried)

30

  5.   Táo           ( Apple)

38

  6.   Đào, nước hộp (Peach canned in juice)

38

7.       Lê tươi     (Pear, fresh)

38

8.       Mận          ( Plum )

39

  9.   Dâu tây

40

10.   Cam

42

11.   Đào tươi    ( Peach, fresh )

42

12. Lê đóng hộp ( Pear, canned)                  

43

13. Nho ( Grapes )

46

14.  Xoài

51

15.  Chuối

52

16.  Nước sinh tố (Fruit Cocktail )

55

17.  Đu đủ

56

18.  Nho khô ( Raisins)

56

19.  Bơ tươi ( Apricots, fresh )

57

20.  Kiwi

58

21.  Vả, Sung khô ( Figs, dried ) 

61

22.  Bơ đóng hộp ( Apricots,canned ) 

64

23.  Dưa đỏ       ( Cantaloupe ) 

65

24.  Dứa, Thơm tươi (Pineapple, fresh )

66

25.  Dưa hấu

72

26.  Chà là

103

 

    


 

GIUN CHÓ TOXOCARA CANIS

Tháng Ba 26, 2009

 toxocara-canis      

 

 

        LƯU Ý CÚN CƯNG!

     TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

    Hai chị em ruột Ph Th Q L 11 tuổi và Ph.Th. Q. C 8 tuổi nhập viện Đà Nẵng chỉ cách nhau 3 ngày, với hai dấu chứng nổi bật là sốt liên tục và đau đầu dữ dội.

    Ngay sau khi vào viện, hai cháu được thăm khám cẩn thận, kết hợp với  kết quả một số các xét nghiệm cận lâm sang liên quan, kể cả chụp CT sọ não, bác sĩ phát hiện nổi trội dấu hiệu viêm não-màng não. Kết quả xét nghiệm kiểm tra dịch não tủy xác định bệnh  của cả hai cháu là viêm màng não, nhưng chưa rõ tác nhân gây ra tình trạng viêm này. Thấy trong công thức máu cũng như trong dịch não tủy của cả hai cháu bé đều có một điểm đặc biệt là có sự gia tăng lượng đáng kể loại bạch huyết cầu ái toan- dấu hiệu gợi ý một tình trạng nhiễm ký sinh trùng như giun sán- bác sĩ điều trị khai thác rất kỹ bệnh sử gia đình và phát hiện một chi tiết nổi bật: gia đình  có nuôi và “chơi” nhiều loại chó cảnh và hai cháu bé vẫn thường xuyên chơi đùa, bồng bế chó. Các xét nghiệm ELISA máu để sàng lọc mầm ký sinh trùng (giun sán) được tiến hành ngay, kết quả là cả Q.L và Q.C  đều bị nhiễm giun chó Toxcara canis. Chẩn đoán cuối cùng của hai cháu là Nhiễm giun chó Toxcara canis ở hệ thần kinh trung ương, gây biến chứng viêm não-màng não nặng.

      Toxocara canis là loại giun tròn sống ký sinh đường ruột của loài chó. Chu kỳ của giun chó cũng như giun đũa ở người, con trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài nở thành ấu trùng, nếu chó tái nhiễm, ấu trùng này sẽ vào đường tiêu hóa sau đó ấu trùng sẽ phát triển ra con giun trưởng thành, sống ký sinh tại đường ruột, đẻ trứng và một chu trình mới lại bắt đầu. Nếu trẻ nuốt phải ấu trùng giun chó, ấu trùng này không thể phát triển nên giun trưởng thành trong cơ thể người được, nó vẫn tồn tại dạng ấu trùng và lưu hành trong dòng máu đến ký sinh, đóng thành kén, gây phản ứng viêm và tạo ra các u hạt thâm nhiễm bạch cầu ái toan ở các cơ quan nội tạng rồi gây ra bệnh cho con người. Đặc biệt khi ấu trùng đến định vị hệ thần kinh trung ương sẽ gây viêm não-màng não, đau đầu dữ dội, động kinh, liệt bán thân hay liệt chi…đây là thể nặng có thể gây tử vong và di chứng.

    Năm 2003 Giáo sư Trần Đông A lần đầu tiên phẫu thuật một bệnh nhi 7 tuổi với rất nhiều kén giun chó bám đầy gan gây tổn thương nặng, trước đó cháu nầy bị chẩn đoán nhầm là u gan. Thống kê tại TP Hồ Chí Minh cho thấy hằng năm có đến 200 bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun chó, mèo vào viện. Mới gần đây, tháng 9/2008, một bệnh nhân 18 tuổi với chẩn đoán u não, được giới thiệu đến bệnh viện Đại học Y Dược Huế để điều trị dao gamma (gamma knife); nhưng tại đây  nhờ các xét nghiệm cẩn thận, bệnh nhân này được phát hiện là nhiễm giun chó vào não; sau đó chỉ điều trị nội khoa và ra viện an toàn. Hai cháu Q.L và Q.Ch dù là những trường hợp đầu tiên phát hiện tại bệnh viện Đà Nẵng, nhưng may mắn cho các cháu là các bác sĩ ở đây đã chẩn đoán sớm nên điều trị kịp thời, hai bệnh nhi đã đáp ứng tốt với điều trị tích cực theo đúng phác đồ y học.

      Chó là vật nuôi quá thân thiết với người Việt Nam chúng ta: trong tình cảm, trong thơ văn và ngay cả trong tín ngưỡng chó có một vị trí đặc biệt. Phong trào nuôi vật cảnh, đặc biệt nuôi chó đang rộ lên và đây cũng là một trò chơi hay ho, nhiều thú vị….Chỉ tiếc rằng nhiều người nuôi chó đã không tuân thủ những quy định, cảnh báo cần thiết để phòng bệnh cho chócho con em mình. Nuôi chó cần lưu ý hai điều: một là chó cũng có thể mắc nhiều bệnh truyền nhiễm có thể lây sang người, chúng ta chỉ để ý bệnh chó dại nhưng thường quên những bệnh lây nhiễm khác, trong đó giun chó chỉ là một ví dụ. Cho nên đã nuôi chó cần phải có bác sĩ thú y theo dõi, tiêm chủng ngừa đầy đủ và phải điều trị chu đáo khi chúng mắc bệnh, phải quản lý vệ sinh đặc biệt về lông, phân, nước tiểu, chuồng trại, sân nuôi cẩn thân; hai là không cho trẻ chơi đất cát trong vườn, chuồng chó hoặc tiếp xúc quá nhiều với vật nuôi này.

 

                        

  

XÔI

Tháng Ba 26, 2009

 

xoi

 

XÔI: VIETNAMESE FAST FOOD

BÁNH CHƯNG: EXCELLENT VN FAST FOOD

Tháng Ba 26, 2009

banh-chung

VIETNAMESE FAST FOODS

Tháng Ba 25, 2009

     THỨC ĂN NHANH VIỆT NAM:             TỐT HƠN !

        TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

 

      Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Từ thập niên 50 của thế kỷ trước cùng với sự công nghiệp hóa ồ ạt ở Âu Mỹ, các loại fast food (thức ăn nhanh) cũng nhanh chóng lên ngôi. Năm 1940 nhóm thập niên 60 Mac Donald bùng nổ toàn thế giới với hệ thống nhiều cửa hàng bán lẻ thuận tiện với cả trăm món ăn nhanh khác nhau và khách hàng cứ thoải mái ngồi trên xe không cần bước xuống, nhân viên bán hàng phục vụ tận nơi.

     Ngược dòng lịch sử, thức ăn nhanh đã có từ xa xưa: trong những đô thị thời cổ La Mã đã có những quầy hàng “nhanh” bán bánh mì và rượu nho, vùng Đông Á thì có các quán bún, mì (noodle), vùng Trung Đông thì có món bánh mì dẹt và falafel, Ấn độ có các món ăn nhanh như vada pav, panipuri và dahi vada… Ở Việt Nam, cứ theo định nghĩa của tự điển Merriam-Webster– thức ăn nhanh là thức ăn đã được chế biến sẵn, đóng gói sẵn và đem soạn ra, phục vụ một cách rất nhanh- chúng ta cũng có khá nhiều “fast food” đúng nghĩa, hợp khẩu vị, đạt tiêu chuẩn dinh dưỡng và đặc biệt giá cả cực kỳ hợp lý. Đó là các loại bánh chế biến sẵn từ gạo, nếp ( bánh chưng, bánh tét, bánh nậm, bánh bèo, bánh gói, bánh tày…), các loại xôi (đậu, đường, gà, vịt… ), nhiều món bún, phở (tái, nạm, chả, chần…), lắm kiểu đĩa trứng (ốp la, bíp tết..).v.v…So với fast food Âu Mỹ, thức ăn nhanh Việt Nam có ba ưu điểm hơn: một là nguyên liệu đầu vào, phần đường bột thường xử dụng các loại tinh bột gạo, đậu, nếp… vốn có chỉ số đường huyết thấp hơn bột mì và thành phần đạm thường dùng nhiều loại không đơn điệu, hai là cách chế biến, đầu bếp ta hay dùng cách hấp luộc hơn là chiên rán nên lượng chất béo chắc chắn ít hơn và ba là thường có thêm thức ăn kèm như các loại rau rán tươi sống, dưa, hành, ớt tỏi, nước chấm các kiểu…cũng là nguồn cấp thêm chất khoáng và vitamin cho bữa ăn hoàn chỉnh. Về dinh dưỡng bữa ăn hợp lý cần có nhiều loại thức ăn, với những ưu điểm trên rõ ràng thức ăn nhanh của chúng ta hơn hẳn.    

     Chính tại Âu Mỹ, sau một thời gian tung hê, ca tụng người ta chợt nhận ra rằng thức ăn nhanh tuy đáp ứng, phù hợp với nhu cầu lối sống công nghiệp, nhưng do nó chứa quá nhiều năng lượng và chất đạm, nhưng lại quá ít, quá thiếu chất khoáng và vitamin, sự bất cân xứng thành phần này đã gây ra tác hại. Các nhà dinh dưỡng phương Tây giờ đây nhận định “không thể có thức ăn vừa nhanh vừa tốt khỏe” (can’t have a meal that’s both quick and healthy). Nhiều công trình khoa học nghiêm túc cho thấy tình hình bệnh béo phì, quá cân, đái tháo đường và đặc biệt bệnh tim mạch đã tăng lên rõ rệt, tỷ lệ thuận với việc dùng nhiều fastfood. Một điều đáng lưu ý nữa là đa số thức ăn nhanh phương Tây thường được chiên, xào, rán, nướng…,các quá trình chế biến này vừa dùng quá nhiều chất béo vừa có thể sản sinh ra các độc chất nguy hại, có thể gây ung thư. Các trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh (CDCP) trên khắp nước Mỹ đều xếp béo phì là “đại họa”, là nguyên nhân thứ hai gây đến 400.000 cái chết hằng năm và nguyên nhân hàng đầu lại là do dùng nhiều thức ăn nhanh quá.  

      Thấy được những hậu quả xấu của thức ăn nhanh, từ thập niên 80 Carlo Petrini (Ý) khởi xướng phong trào “thức ăn chậm” (slow food), biểu tượng là con ốc sên, chủ trương của phong trào là chỉ dùng những nông sản, thực phẩm địa phương và cách nấu ăn truyền thống để chống lại thức ăn nhanh. Năm 2004 Carlo Petrini và Massimo Montarani mở cửa Đại học Nấu nướng (University of Gastronomic Sciences) ở Ý để cổ xúy, hướng dẫn các mục tiêu, tôn chỉ của phong trào Slow Food.

      Người phương Tây, với tính khoa học duy lý thực dụng đã vội vàng chuyển dịch xu hướng “ăn nhanh” qua “ăn chậm”. Triết lý phương Đông của chúng ta hài hòa hơn vì “thái quá sinh bất cập”. Với phương châm “hòa nhập nhưng không hòa tan” chúng ta cần học hỏi cái ưu thế của thức ăn nhanh kiểu Mỹ, nhưng cũng phải biết bảo tồn, tôn tạo những cái hay, cái ưu thế của thức ăn nhanh thuần túy Việt Nam để cuối cùng tạo được một bữa ăn “ôn hòa” (ambiance food), món “tứ khoái” đầu tiên của con người: vừa đảm bảo thời gian vừa có đầy đủ năng lượng đảm bảo khỏe khoắn, phấn khởi để lao động sản xuất.

 

    

    6 cách chọn thức ăn nhanh tốt (nguồn MayoClinic.com)            

 Cần nhớ là không có thức ăn vừa nhanh vừa tốt cho sức khỏe.

 Nhưng khi mua fast food cần để ý 6 điều:

1.     Chọn kích cỡ nhỏ, số lượng ít: để ít năng lượng thừa.

2.     Chọn thành phần lợi sức khỏe: sữa chua, bột ngô, bột gạo..

3.     Chọn màu xanh: trái cây, rau rán…

4.     Chọn món thịt nướng: nạc ít mỡ.

5.     Chọn món mình thích hợp khẩu vị.

6.     Chọn món uống cẩn thận: nên chon thức uống “ăn kiêng” (diet), nước trà

 không đường, nước khoáng.