Archive for Tháng Năm, 2009

TIẾT CANH KHÔNG “BỔ MÁU” GÌ !

Tháng Năm 27, 2009

TIẾT CANHtuoitre

  TIẾT CANH: CHẲNG “BỔ MÁU” GÌ !

 TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

 “Ăn gì bổ nấy” là nếp nghĩ đã lâu đời của đa số người Việt chúng ta. Với quan niệm như thế rất nhiều người khỏe mạnh lẫn bệnh đều tìm ăn tiết canh với hy vọng là được “bổ máu”, cường dương, sung sức…Chúng ta thử tìm hiểu, phân tích một cách khoa học về giá trị dinh dưỡng, tốt xấu, đúng sai của việc ăn tiết canh bổ máu này.

    Máu gồm hai phần một là Huyết cầu (tế bào máu) chiếm 45% thể tích máu trong đó hồng cầu (tế bào đỏ) 96%, bạch cầu (tế bào trắng) 3% và tiểu cầu (tế bào nhỏ) 1%. Trong hồng cầu có chứa huyết cầu tố (hemoglobin, Hb) là thành phần quan trọng nhất đảm trách nhiệm vụ đưa dưỡng khí (oxy) đến mọi cơ quan và mang thán khí (các bô níc) từ các cơ quan về phổi để thải loại ra ngoài. Thiếu máu theo định nghĩa y học là thiếu hồng cầu, cụ thể là thiếu huyết cầu tố; hai là Huyết tương (phần dịch lỏng) chiếm 55% thể tích máu. Chức năng của huyết tương là vận chuyển các huyết cầu, chất dinh dưỡng, các hóc môn, vitamin, chất đông máu.v.v…đi khắp châu thân.

(more…)

Advertisements

TRỨNG GIẢM HUYẾT ÁP, BẢO VỆ TIM

Tháng Năm 19, 2009

RÁN TRỨNG 2

TRỨNG TRÒN: “LẮM CHUYỆN”!

TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

Trứng là món ăn quá quen thuộc với chúng ta, mỗi người trong đời ăn cả ngàn, cả vạn quả trứng. Điều thú vị là còn nhiều vấn đề dinh dưỡng chung quanh quả trứng, khen cũng lắm mà chê cũng khá nhiều, gần đây khi những thống kê dự báo về tình trạng thừa cân béo phì đang gia tăng “như bệnh dịch” thì tính chất “bổ dưỡng”, “cholesterol tốt xấu” của trứng lại được đem ra mổ xẻ, săm soi.

Cứ 100 gam trứng cho được: 150 calo ; 65,7g nước; 12g đạm; 10,6g béo; 0,8g đường; 10,9g khoáng chất và vitamin. Chất béo tập trung chủ yếu trong lòng đỏ với các thành phần: triglyceride 62,3%; phospholipid 32,8%; cholesterol 4,9% và một ít aminolipid.

Giá trị dinh dưỡng trong một quả trứng (trung bình khoảng 65 gam) tính theo nhu cầu hằng ngày (RDI): Calo 74 (4%); Chất đạm 6g (10%); Chất béo 5g (7%) trong đó chất béo bảo hòa 1,5g, chất béo không bảo hòa 2g, chất béo không sinh cholesterol 0,6g, cholesterol 0,212g (71% RDI); Chất đường 0,4g (<1%); Chất khoáng Phốt pho 96mg (8%), Kẽm 0,6mg (4%); Các vitamin: vitaminA 244 IU (6%), vitaminB2 0,24mg (15%), vitaminB6 0,07 mg (4%), vitaminB12 0,65 mcg (8%), vitaminD 18 IU (5%), folate 24 mcg (6%), choline 125mg (25%), lutein-xanthin 166mcg.

Hơn bốn thập kỷ qua, việc ăn trứng thường vẫn bị giới y khoa cảnh báo “võ đoán” là có khả năng gây bệnh tim mạch do quá “bổ dưỡng” và nhiều cholesterol. Nhưng theo bảng so sánh giá trị dinh dưỡng với RDI ở trên, giả sử ngày nào chúng ta cũng ăn một quả trứng thì lượng cholesterol trong đó chỉ bằng ba phần tư nhu cầu cho người bình thường, và chắc chắn là không thừa, không quá tải gì cả. Chính Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), vốn trước đây rất “căng thẳng” với trứng, nay cũng hòa hoãn hơn khi đưa ra ngưỡng cho phép của cholesterol ăn vào là 300mg mỗi ngày (bằng lượng cholesterol trong một quả rưỡi trứng), hội cũng khuyến cáo là nếu lo ngại thì chỉ nên hạn chế ăn lòng đỏ là nơi tập trung chất béo.

Lòng trắng trứng sống (raw white egg) lại có vấn đề, đó là chất avidin; khi ăn lòng trắng trứng sống -theo thói quen của một số người- chất avidin khi vào đường tiêu hóa sẽ kết hợp với một vitamin tan trong nước là biotin, khiến vitamin này không hấp thu được và gây độc.!!!

Cần nhắc lại là cholesterol từ hai nguồn cung cấp: “ngoại sinh” do thức ăn đem vào chỉ chiếm gần 20 phần trăm và “nội sinh” do sinh tổng hợp xảy ra ngay trong cơ thể sẽ bổ sung đến 80 phần trăm còn lại. Gan là nơi tổng hợp cholesterol từ một tiền chất là Acetyl-CoA lấy từ chuyển hóa các chất đường, béo và đạm; cho nên ăn quá nhiều đường, đạm cũng có thể béo phì chứ không hẳn chỉ do ăn chất béo. Người bị bệnh  rối loạn chuyển hóa lipid máu thường là do tăng tổng hợp cholesterol “nội sinh” hơn là do ăn vào cơ thể nhiều cholesterol “ngoại lai”. Hơn nửa thế kỷ trước BS Paul Dudley White -một bác sĩ bậc thầy trong ngành tim mạch, người sáng lập Viện Tim quốc gia (Hoa Kỳ), viết 12 cuốn sách và hơn 700 đề tài khoa học- cùng cộng sự ở Đại học Havard đã đưa ra luận cứ xác đáng để phòng bệnh tim mạch: tăng cường vận động chứ không phải kiêng ăn. Phương pháp “xe đạp” của BS. White nổi tiếng cả thế giới và hiện ở Boston-Brookine một đường tập xe đạp chữa bệnh dài17 dặm mang tên ông.

Một nghịch lý thú vị về trứng là gần đây các nhà khoa học ở Đại học Alberta (Canada), với nghiên cứu: “Cholesterol/trứng và bệnh tim”, đã phát hiện rằng trứng luộc và đặc biệt trứng rán dưới tác dụng của các men tiêu hóa trong dạ dày và ruột non sẽ tạo ra nhiều loại peptide khác nhau có tác dụng ức chế men chuyển đổi ACE, khi men ACE bị ức chế thì huyết áp động mạch sẽ giảm xuống và quả tim sẽ được bảo vệ. Kết luận về công trình nghiên cứu này BS. Allen Spreen cho rằng “ Cả trứng và cholesterol trong trứng không có ảnh hưởng gì lên sự tăng cholesterol máu và sự tăng huyết áp….trứng tuyệt đối vô hại (eggs are absolutely NOT dangerous)”. Đề tài khoa học này vừa được đăng trên tạp chí Hóa Thực phẩm và Nông nghiệp (Agricultural and Food Chemistry) dưới hàng tít “ngược đời”, gây chấn động lớn trong y học: Trứng, thực phẩm giàu cholesterol lại làm giảm huyết áp, bảo vệ quả tim con người !!!

Đến đây, chúng ta có thể kết luận rằng trứng là một thức ăn tuy rất phổ thông nhưng vô cùng kỳ diêu vì nhiều lẽ: (1) dinh dưỡng cao với nhiều vitamin, nhiều khoáng chất, (2) sẽ độc nếu xử dụng sai, (3) gần đây người ta phát hiện có tác dụng “dược phẩm” làm giảm huyết áp, bảo vệ tim, (4) khâu bảo quản tương đối quá dễ và (5) đâu đâu cũng có với giá cả cực kỳ hợp lý. Nhưng cũng cần nhắc lại là mọi sự việc kể cả ăn uống “thái quá sinh bất cập”: trứng quá tốt nhưng không được ăn quá hai quả mỗi ngày!!!

THIẾU CHOLESTEROL: “CŨNG CHẾT”!!!

Tháng Năm 11, 2009

r7_endocrinesystem

THIẾU CHOLESTEROL: “CHẾT” ĐẤY!

TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội bệnh béo phì và đái tháo đường đang gia tăng cả về số lượng lẫn tốc độ, đến mức có thể xem là một “bệnh dịch” theo tiêu chí y khoa hiện nay. Béo phì và rối loạn lipid máu gần như là anh em sinh đôi, khi theo dõi bệnh nhân béo phì bác sĩ nội tiết thế nào cũng cho xét nghiệm các “chất mỡ” trong máu (bilan lipid). Và khi có kết quả nồng độ cholesterol máu gia tăng, đa số người bệnh đều cuống cuồng, lo lắng…vì ít nhiều cũng nghe, cũng “ám ảnh” rằng cholesterol là “thủ phạm”, “kẻ thù”!!!. là đầu mối gây ra bệnh. Điều oái ăm là rất ít người chịu khó thử tìm hiểu, “nghiên cứu”: Vậy cholesterol là chất gì ? Có đúng nó là kẻ thù đối với sức khỏe con người hay không? Và nếu có gây hại thì vì sao?

Thật ra cholesterol là một chất béo cần thiết cho cơ thể con người với nhiều chức năng, vai trò quan trọng: (1) là thành phần cấu tạo ở màng của cả tỷ tế bào trong cơ thể,(2) thành phần cấu tạo các sợi trục, dây và rễ của hệ thần kinh trung ương lẫn ngoại biên và (3) cholesterol còn là chất tiền thân (precursor) để sinh tổng hợp nên các hóc-môn steroid của tuyến thượng thận và tuyến sinh dục, đây là hai tuyến nội tiết vô cùng quan trọng đảm bảo chức năng sống còn và duy trì nòi giống. Do đó thiếu cholesterol chắc chắn cơ thể chúng ta không thể tồn tại và vận hành được, thiếu cholesterol cũng sẽ gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm không thua gì tình trạng thừa cholesterol.

Cholesterol trong người từ đâu mà có? Có hai nguồn cung: một là thức ăn đem vào khoảng 20 phần trăm nhu cầu và hai là sự sinh tổng hợp xảy ra ngay trong cơ thể bổ sung đến 80 phần trăm còn lại. Gan là nơi tổng hợp cholesterol từ một tiền chất là acetyl-CoA lấy từ chuyển hóa các chất đường, béo và đạm. Như vậy đã rõ ràng là cholesterol “nội sinh” mới là nguồn chính, người rối loạn chuyển hóa lipid máu thường là do tăng tổng hợp cholesterol “nội sinh” hơn là do ăn nhiều cholesterol “ngoại lai” vào cơ thể. Khi lưu hành trong máu cholesterol thường kết hợp với chất protein “vận chuyển” để tạo thành 2 phức hợp lipoprotein là LDL (mật độ thấp, gây hại) và HDL (mật độ cao, có lợi); cần nhấn mạnh thành phần cholesterol gây hại thật sự cho cơ thể chính là LDL này.

Tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu– thừa LDL và thiếu HDL- sẽ gây nhiều biến chứng như: (1) xơ vữa động mạch với những hệ lụy như tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, thiếu máu mạch vành, nhồi máu cơ tim.v.v….(2) bệnh béo phì (3) bệnh đái tháo đường (4) gan nhiễm mỡ….

Phải làm gì khi có nguy cơ rối loạn chuyển hóa lipid máu? Vì “đầu vào” chúng ta chỉ “cải tạo” (modifiable) khoảng 20% thông qua chế độ ăn giảm béo, để tránh nguy cơ hoặc điều trị rối loạn lipid máu chủ yếu cải tạo ở “đầu ra” với mục đích cuối cùng là tránh lượng cholesterol dư thừa ứ đọng lại và các biến chứng. Ở đầu ra chúng ta có thể tác đông nhiều cách: một là việc xử dụng các loại thuốc với mục đích là ức chế sinh tổng hợp cholesterol từ gan và tăng hoạt các thụ thể LDL, hiệu quả cuối cùng là giảm nồng độ LDL, hai là tăng vận động thể lực nhằm tiêu hủy năng lượng thừa và ba là giảm các yếu tố “gợi ý” bệnh như rượu bia quá mức, hút thuốc lá, stress, ô nhiễm môi trường…. Cần biết là đã hơn nửa thế kỷ trước BS Paul Dudley White -một bác sĩ bậc thầy trong ngành tim mạch, người sáng lập Viện Tim quốc gia (Hoa Kỳ), viết 12 cuốn sách và hơn 700 đề tài khoa học- cùng cộng sự ở Đại học Havard đã đưa ra luận cứ xác đáng để phòng ngừa bệnh tim mạch đó là: tăng cường vận động chứ không phải kiêng ăn.

Hình minh họa:    Cholesterol là tiền chất để tổng hợp các hóc môn các tuyến thượng thận, buồng trứng và tinh hoàn

THƯ CÁM ƠN ĐÁM TANG MẸ

Tháng Năm 11, 2009

IMG_0900

HIỆU SỐ NỒNG ĐỘ ESTRADIOL .

Tháng Năm 11, 2009

Hiệu số E2 CKKN

HIỆU SỐ NỒNG ĐỘ ESTRADIOL TRONG

NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG SINH DỤC NỮ

TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

1.Đại cương về estrogens

Estrogens có cấu tạo nhân steroid, ở nữ chúng được chế tiết từ các tế bào lớp trong và lớp hạt của noãn nang, hoàng thể, nhau thai và một lượng nhỏ từ thượng thận. Mô nền của buồng trứng cũng có thể chế tiết một lượng ít androgen và estrogen trong giai đoạn tiền mãn kinh.

17b estradiol là thành phần nhiều nhất của  các estrogen có sự cân bằng động giữa estradiol và estrone. Estrone chuyển hóa tiếp thành estriol.

Khi lưu thông trong máu chỉ 3 % estradiol ở dạng tự do, phần còn lại kết hợp với protein vận chuyển trong đó 60% với albumin và 37% với GBG (Gonadal steroid Binding Globulin). GBG cũng vận chuyển gắn kết với testosterone.

Ở gan các estrogen (E1, E2 và E3) được oxy hóa và liên hợp với glucuronide hoặc sulfate. Một lượng lớn bài tiết ra đường mật được tái hấp thụ vào máu (tuần hoàn ruột gan). Có đến cả 10 chất chuyển hóa của estradiol được thải ra trong nước tiểu .

2.Chế tiết estradiol theo chu kỳ kinh nguyệt

Nồng độ Estradiol huyết tương thay đổi từng ngày trong một CKKN.

Biểu đồ: Chế tiết E2 trong CKKN

Tất cả các  estrogen được chế tiết từ buồng trứng và có hai đỉnh tiết:

*trước khi rụng trứng và

*khoảng giữa pha hoàng thể.

Estradiol được tiết 0,07mg/ngày (0,26mmol/ngày) trong những ngày đầu của pha noãn nang, tăng lên khoảng 0,6mg/ngày trước khi rụng trứng và chỉ còn lại 0,25mg/ngày khoảng  giữa pha hoàng thể.

Sau mãn kinh estrogen còn được tiết ra – từ những nơi khác ngoài noãn nang – nhưng với số lượng ít hơn rất nhiều. Ở đàn ông tinh hoàn, tuyến thượng thận cũng có tiết estradiol nhưng rất thấp 0,05mg/ngày  (0,18mmol/ ngày)

3. Hiệu số nồng độ Estradiol trong nghiên cứu khoa học

Trong các nghiên cứu về sự biến đổi nồng độ của một hằng số sinh học trong cơ thể, thông thường chúng ta hay so sánh trị số tuyệt đối giữa nồng độ của mẫu và nồng độ của chuẩn (hoặc chứng).

Với những chất sinh học có nồng độ thay đổi theo một thông số khác, như theo đổi theo thời gian chẳng hạn thì chúng ta phải so sánh trong cùng điều kiện thời gian nghiên cứu. Ví dụ chúng ta phải so sánh glucose máu (G) cùng khi đói (G0 mẫu với G0 chứng) , cùng 2 giờ sau ăn (G2 mẫu với G2 chứng), cũng vậy với G trong nghiệm pháp dung nạp glucose hoặc G bất kỳ (Gc ) giữa mẫu và chứng trong cùng điều kiện.

Vì nồng độ estradiol thay đổi từng ngày trong cả chu kỳ kinh nguyệt, cho nên nồng độ rất cao của ngày này lại có thể là rất thấp so với ngày khác. Do  đó trong các công trình khoa học nghiên cứu nồng độ estradiol chúng ta nên xử dụng hiệu số nồng độ estradiol ( ∆E2), tức là hiệu số nồng độ E2 mẫu trừ với E2 chuẩn có đúng cùng ngày trong chu kỳ kinh nguyệt, ví dụ tính E2 ngày thứ 10 =  E2 mẫu 10 – E2 chuẩn 10, như thế đánh giá sự thay đổi nồng độ estradiol huyết thanh bệnh nhân phù hợp và chính xác hơn.

Việc xử dụng hiệu số nồng độ estradiol giúp chúng ta giải quyết được hai vấn đề lớn : một là giảm đáng kể số lượng bệnh nhân cần phải chọn lựa, vì nếu so sánh trị tuyệt đối từng ngày chúng ta phải cần nghiên cứu trên cả ngàn bệnh nhân kết quả mới có ý nghĩa thống kê. Khi số lượng bệnh nhân giảm bớt thì thời gian nghiên cứu và chi phí xét nghiệm cũng được tiết kiệm nhờ đó tính khả thi sẽ lớn hơn và hai là nhờ định lượng nồng độ estradiol suốt cả chu kỳ kinh nguyệt chúng ta sẽ có cái nhìn khái quát hơn về sự thay đổi nồng độ hormone này.

Tháng Năm 2, 2009

bv-danang