Archive for Tháng Bảy, 2009

THỰC PHẨM HỮU CƠ. ORGANIC FOODS

Tháng Bảy 30, 2009

130px-Australian_organic_seal

130px-USDA_organic_seal_svg

Agriculture_biologique-logo

  THỰC PHẨM HỮU CƠ: XU HƯỚNG MỚI!

       TS.BS TRẦN BÁ THOẠI (Bệnh viện Đà Nẵng)

 

   Vừa qua xem truyền hình O2 TV tôi thấy nhà đài giới thiệu (có hình ảnh) các thực phẩm hữu cơ. Bài giới thiệu ngắn và nhanh quá nên tôi chưa hiểu được hết nội dung. Tôi muốn được biết rõ thực phẩm hữu cơ là gì? Có những thực phẩm hữu cơ nào thông dụng được nuôi trồng, chế biến…trên thị trường Việt Nam? Ưu, khuyết điểm so với các loại thực phẩm thông dụng hiện nay? Xin cám ơn kieungan@..

 

  Thực phẩm hữu cơ (organic food) còn được gọi là tự nhiên (natural food) hay lành mạnh (healthy food)  là những thực phẩm có được từ “nông nghiệp hữu cơ” (organic farming). Nông nghiệp hữu cơ theo Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không xử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, diệt cỏ; nông nghiệp hữu cơ giúp giữ độ phì nhiêu của đất, bảo vệ nguồn nước và giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho con người và vật nuôi. Với nguồn gốc, quy trình sản xuất như thế thực phẩm hữu cơ rõ ràng là rất vệ sinh, an toàn và thân thiện môi trường hơn nhiều so với thực phẩm thông dụng của chúng ta từ trước tới nay vốn là những thực phẩm hóa học (chemical foods) vì xử dụng nhiều hóa chất trong quá trình sản xuất, bảo quản và chế biến.

        

        Những khác biệt giữa canh tác thường và canh tác hữu cơ:

CANH TÁC THÔNG THƯỜNG CANH TÁC HỮU CƠ
Dùng phân bón hóa học Dùng phân bón tự nhiên
Dùng thuốc bảo vệ thực vật Dùng thiên địch như chim, côn trùng..
Dùng thuốc diệt cỏ  để quản lý hạt Sàng, quạt, lựa bằng tay….hạt giống
Cho động vật dùng thuốc kháng sinh, hóc môn tăng trưởng, cho thuốc hóa chất khi cần chữa bệnh.. Nuôi trồng bằng  thực phẩm hữu cơ, nuôi “ngoài vườn” phòng bệnh bằng phương tiện tự nhiên…

   

    “Thái quá sinh bất cập”, vào đầu thế kỷ trước khi phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, kháng sinh, thuốc diệt cỏ…được xử dụng một cách ồ ạt, năng suất của vật nuôi, cây trồng tăng liên tục cũng là lúc bắt đầu có những than phiền, lo lắng cũng như tư tưởng chống lại. Có những lập luận cho rằng thực phẩm “tự nhiên” hay ít “hóa chất” sẽ tốt lành hơn cho con người, và thế là thời cơ của thực phẩm hữu cơ đã đến. Năm 1939 Huân tước Northbourne lần đầu tiên dùng từ nông nghiệp hữu cơ trong cuốn sách “Look to the land”, với quan niệm “nông trại là một cơ thể ” (the farm as organism), để mô tả một nền nông nghiệp chỉnh thể, cân bằng sinh thái, ngược hẳn với nông nghiệp hóa học (chemical farming). Cần lưu ý chữ “cơ” ở đây là cơ thể, khác biệt với “hữu cơ” “vô cơ” thông thường để chỉ một nhóm phân tử hóa học có chứa các nguyên tố các bon hay không.

     Thực phẩm hữu cơ được xếp thành 4 lớp tùy theo  số % lượng chất hữu cơ: (1) “100% organic” không thêm tí chất nào khác, (2) “Organic” có trên 95% hữu cơ, (3) “Made with organic ingredients” có ít nhất 70% hữu cơ và (4) “ Some organic ingredients” có dưới 70% hữu cơ.

   Lúc đầu thực phẩm hữu cơ chỉ chiếm từ 1- 2% lượng bán ra trên thế giới, nhưng những chợ thực phẩm hữu cơ đang trên đà phát triển nhảy vọt ở cả các nước đã cũng như đang phát triển. Năm 2002 doanh số mới 23 tỉ đô la đến 2006 đã vọt lên 40 tỉ đô la. Các chợ thực phẩm hữu cơ tăng liên tục trung bình 20%  có quốc gia tăng đến 50% mỗi năm. Ở nước ta gần đây đã có nhiều thực phẩm hữu cơ trong siêu thị ở các thành phố lớn.

    Nông nghiệp hữu cơ hiện nay đã được ứng dụng ở hơn 120 nước trên thế giới; bắt đầu từ Mỹ và các nước châu Âu hiện nay đang phát triển nhanh tại Ấn Độ, Trung Quốc và các nước châu Mỹ La tinh. Tại Việt Nam Trung ương Hội Nông dân cũng đã triển khai thử nghiệm phương pháp canh tác hữu cơ với các cây lúa, rau, cam, vải và cá nước ngọt ở Lào Cai, Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Phòng.

  Hai vấn đề nổi cộm về thực phẩm hữu cơ hiện nay: một là canh tác với kiểu tự nhiên như thế có đảm bảo sản xuất đủ lương thực, thực phẩm không và hai là  có ai dám chắc chắn là thực phẩm hữu cơ tốt lành hơn canh tác hóa chất.

  *Về năng suất và số lượng: Từ lúc khởi đầu nhiều người xem đây là nhóm thực phẩm xa xỉ dành cho giới trung và thượng lưu- nhiều tiền, muốn “tối ưu” chất lượng sống; nhưng dần dà nhiều nhà khoa học uy tín lại nhận thấy chính nông nghiệp hữu cơ với việc sản xuất thân thiện môi trường, hạn chế ô nhiễm…về lâu về dài cũng góp phần hạn chế đói nghèo. Tại hội nghị của WHO về “Nông nghiệp hữu cơ và an ninh lương thực” diễn ra ở Roma (Italia) năm 2007 các chuyên gia của các trung tâm nghiên cứu  cho thấy khi quay về phương thức canh tác hữu cơ thì nông dân sẽ tiết kiệm được tiền mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…cùng lúc với việc đa dạng mùa vụ, xuất khẩu cũng được giá và bền vững tương lai hơn. Tổ chức lương thực thế giới (FAO) cũng nhận định nông nghiệp hữu cơ có khả năng cung cấp đủ lương thực nuôi sống dân số trên thế giới hiện nay.

 *Về tính ưu việt so với thực phẩm “hóa học”: Ai cũng chấp nhận thực phẩm hữu cơ là vệ sinh, an toàn cho con người; nhưng lợi ích về dinh dưỡng vẫn còn nhiều bàn cãi. Nhiều người, kể cả nhà chuyên môn, cho rằng thực phẩm hữu cơ và thực phẩm hóa học giá trị dinh dưỡng ngang nhau. Ngài John Krebs chủ tịch Food Standard Agency cho rằng “chưa có chứng cớ khoa học rõ ràng để chứng minh hữu cơ tốt hơn hóa chất”. Các nghiên cứu dài hơi cả chục năm liên tục của nhiều viện khoa học nông nghiệp ở Anh và Mỹ đều cho kết luận là “không có gì khác biệt” giữa hai loại thực phẩm nói trên.

   Người viết bài muốn tóm lại ba ý: một là thực phẩm hữu cơ tuy vệ sinh, ít “ô nhiễm” và thân thiện môi trường nhưng cũng có những tồn tại như  giá đắt hơn, sản lượng ít hơn, dễ hư hao thối hỏng hơn và nông dân khổ và bị động hơn, hai là thực phẩm sản xuất, chế theo phương thức nào nếu “đúng quy trình” đều tốt cho con người cả; và cuộc tranh cãi “hữu cơ hay hóa chất tốt” còn lâu mới có hồi kết, cho nên cũng không nên quá vội vã “sổ toẹt” thực phẩm thông dụng và ba là chúng ta, những người tiêu dung, có quyền chọn lựa thức ăn theo sở thích, cảm quan và theo túi tiền riêng của mình.

        Ảnh: Các nhãn xác nhận thực phẩm hữu cơ (Wikipedia)

Advertisements

CHẢY MÁU CHẤT XÁM. BRAIN DRAIN

Tháng Bảy 19, 2009

A5b crop

TÀI NĂNG: KHÔNG THỂ “HÁI LƯỢM” MÃI!

 TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

    Cách đây đã hơn nửa thế kỷ, vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484) vua Lê Thánh Tông cho dựng Văn miếu, Tiến sĩ Thân Nhân Trung được vua đề cử soạn văn bia, ông đã viết một đoạn nổi tiếng lưu lại cho đến ngày nay: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và càng bay lên, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp”. Ý nghĩa của câu chữ này ai cũng hiểu và công nhận là quá chí lý. Nhiều trường học còn cho dựng bảng khắc câu này ở trong khuôn viên, những nơi trang trọng…với mục đích khuyến khích, nhắc nhở, tôn vinh người hiền tài.

     Tư duy người Mỹ rất rõ ràng và thực tế, họ cho rằng muốn tiến hành một dự án thì kế hoạch cần phải có 4 chữ M:  Man power (con người), Money (tiền bạc), Marterials (cơ sở vật chất) và Management (quản lý), trong đó Man -con người- phải là yếu tố quan trọng đầu tiên. Cần nhắc lại “con người” ở đây phải là người có chuyên môn trình độ tức là những hiền tài.  

    Chắc chắn hiền tài không thiếu trong xã hội chúng ta hiện nay. Họ cũng như viên ngọc quý, phải được phát hiện, mài dũa, chế tác.v.v.… mới có thể  “phát sáng” và mới có giá trị. Nói cho cùng thì hiền tài cũng là con người bằng xương bằng thịt; họ không thể tự nhiên mà có, họ phải được nuôi dưỡng, học hành và phải khổ công trau dồi, rèn luyện…mới thành danh. Tiến sĩ Thân Nhân Trung, người đã để lại hậu thế ngoài những bài thơ, áng văn hay ông còn đưa ra nhiều nhân sinh quan rất tốt đẹp mà đỉnh cao là câu đoạn nhận xét về hiền tài nêu trên, đã may mắn được vị anh quân vua Lê Thánh Tông thấy được, đánh giá được tài năng rồi cất nhắc, bổ dụng những vị trí quan trọng nhờ đó tài năng, tinh hoa của Thân Nhân Trung mới có điều kiện bộc lộ, phát tiết. Xã hội cần phải có người tài đức cán đáng công việc, ngược lại hệ thống quản lý xã hội phải có chính sách cụ thể để hiền tài phút huy hết khả năng, do đó việc chiêu hiền đãi sĩ cũng cần rõ ràng, thiết thực chứ không thể là khẩu hiệu rêu rao suông như vẫn thấy lâu nay.

     Vẫn còn tồn tại một câu hỏi quen thuộc: Tại sao chúng ta bị “chảy máu chất xám” (brain drain) dai dẳng? Câu trả lời quá đơn giản: Do chính chúng ta gây ra, đúng hơn là do chúng ta đã đưa ra những chính sách nửa vời, không thực chất và thật sự chưa thể gọi là chiêu hiền đãi sĩ đúng nghĩa . Chất xám cũng cần phải nạp “năng lượng” mới phát huy được “năng lực”. Và “năng lượng” cho chất xám cũng đơn giản như mọi con người bình thường: đó cũng là cơm, cháo, gạo, tiền vốn là những nhu cầu thiết thực cho cuộc sống. Chất xám cũng cần lời động viên, khen ngợi thật sự và xuất phát từ chân tình, họ học rộng hiểu nhiều nên không thể duy ý chí để nhịn đói để phục vụ, để hy sinh theo những hứa hẹn viễn vông.

      Hơn 2000 năm trước, trong sách Luận ngữ đức Khổng Tử dặn dò học trò: “Phải tránh nói những gì không làm được” và “Người quân tử cần thận trọng ở lời nói, nhanh chóng ở việc làm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có tâm sự: “Tôi khuyên các bạn một điều là chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng phải từ chỗ nhỏ dần dần đến to…. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn một trăm chương trình to tát mà không làm được”. Cho nên chính quyền, những vị quan chức lãnh đạo cần nghiêm túc hơn trong chính sách trọng dụng, thu hút trí thức.

     Đến nay đã nhiều địa phương, nhiều vị lãnh đạo hô hào, cổ xúy việc “chiêu hiền đãi sĩ ”, tạo “đất lành chim đậu”…Tiếc rằng những ý tưởng tốt đẹp này mới “treo” “vẽ” trên giấy; còn vào thực tiễn đời sống chắc cũng còn “chờ”, chắc cũng còn “treo lâu” …

DẦU TRÀM

Tháng Bảy 18, 2009

DauTram

DẦU TRÀM 3

  CHỐNG CÚM VỚI DẦU TRÀM

  TS.BS TRẦN BÁ THOẠI (Bệnh viện Đà Nẵng)

    Dầu gió quá quen thuộc trong đời sống thường nhật của dân ta; không chỉ người già, người bệnh, phụ nữ khi sinh đẻ mà cả người trẻ, người khỏe mạnh khi đi tàu xe …đều có cầm theo chai dầu như là một liệu pháp phòng bệnh thời khí hữu hiệu, “ở đâu có gió ở đó có dầu”. Có đến 5 cách dùng dầu gió: (1) thoa hai bên thái dương, xương ức, xương sống…(2) xông dầu trong phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ…(3) xông, hít, ngửi dầu vào vùng mũi họng (4) tắm nước ấm có pha thêm dầu và (5) dùng dạng viên nang hay dung dịch uống. Vùng đất cát cằn cỗi miền Trung, đặc biệt ở Thừa Thiên Huế có rất nhiều tràm gió hoang dại, thấp như cây chổi, mọc tự nhiên thành rừng. Từ cây tràm gió hoang dại nầy, người Huế đã chưng cất ra một loại dầu gió rất thông dụng: dầu Tràm.

   Cây tràm gió (melaleuca leucadedron L) mọc thành rừng tự nhiên ở Việt Nam. Rừng tràm phân bố nhiều ở Thừa Thiên Huế và rải rác ở Quảng Bình, Quảng Trị, Long An, Đồng Tháp Mười, Tây Ninh…Nông dân khai thác tinh dầu tràm bằng cách chưng cất lôi cuốn hơi nước lá cây tràm hoang. Trữ lượng khai thác tinh dầu tràm ở Việt Nam khá lớn khoảng 500 tấn/năm.  

   Phân tích thành phần hóa học của dầu tràm có rất nhiều chất, nhưng chỉ có hai hoạt chất có tác dụng là Eucalyptol chiếm từ 42-52% và α-Terpineol chiếm từ 5-12%. Eucalytol có tác dụng sát khuẩn nhẹ, long đàm và có hương thơm và mùi vị dễ chịu nên được dùng trong nhiều loại thuốc ho, nước súc miệng và mỹ phẩm…Hoạt chất  α-Terpineol chiết xuất từ tinh dầu tràm chính là nguyên liệu để sản xuất nhiều thuốc sát khuẩn và nấm đặc hiệu, dưới hai dạng sử dụng: bôi thoa trực tiếp hay dạng hít ngửi bay hơi.

     Đã có nhiều công trình khoa học ở cấp Bộ Y tế, cấp Nhà nước nghiên cứu về quy trình công nghệ để chiết xuất, độc tính, tác dụng dược lý, tác dụng kháng khuẩn của α-Terpineol  từ tinh dầu tràm. Theo kết quả công trình khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Dịp và CN Hồ Hữu Dụng (Đề tài NCKH Bộ Y Tế năm 1996) thì α-Terpineol thiên nhiên là một kháng khuẩn thực vật có hiệu lực kháng khuẩn, kháng nấm ở dạng tiếp xúc (bôi thoa), đặc biệt hơn là ở điều kiện bay hơi. Và gần đây hơn một nghiên cứu của OPODIS pharma   (thực hiện tại Viện Pasteur TP HCM 2008) cho thấy dầu thuốc sử dụng α-Terpineol tự nhiên chiết xuất từ dầu tràm còn có tác dụng ức chế virút cúm H5N1; còn tác dụng ức chế virút H1N1 hiện đang tiếp tục nghiên cứu. Từ 2008 tinh dầu tràm cũng được Bộ Y Tế cho vào danh mục thuốc thiết yếu dành cho y tế cơ sở để kiểm soát bệnh địa phương (local diseases control).

     Dầu tràm với hoạt chất chính là Eucalyptol và α-Terpineol đã có từ lâu đời và được xử dụng rất rộng rãi trong cộng đồng dân chúng để phòng ngừa cảm mạo, “gió máy” cho người già, người bệnh, thai sản phụ, trẻ nhỏ kể cả sơ sinh. Tính kháng khuẩn và kháng nấm của dầu tràm đã được xác nhận, các nghiên cứu về khả năng ức chế virut cúm gần đây bước đầu cho một số kết quả đáng khích lệ. Thiết nghĩ dùng dầu tràm gió chiết xuất tự nhiên và các chế phẩm dẫn xuất dưới dạng xông, hít mũi trong phòng làm việc, phòng khách, phòng ngủ, trong xe ô tô… cũng là một biện pháp y tế dự phòng hợp tình, hợp lý và rất khoa học: vừa tạo hương thơm dễ chịu lại vừa sát khuẩn, ức chế vi rút, đặc biệt đang trong mùa “cao điểm”  sốt, cúm như hiện nay.

CHÁO GẠO ĐỎ CÁ BỐNG THỆ

Tháng Bảy 17, 2009

cransbully

BỐNG THỆ4

BỐNG THÊ 1

THỰC PHỔ BÁCH THIÊN

      CHÁO GẠO ĐỎ CÁ BỐNG THỆ

   TS.BS TRẦN BÁ THOẠI (Bệnh viện Đà Nẵng)

 

     Ở Huế điểm tâm buổi sáng hay ăn khuya có một món bình dân nhưng rất thanh tao, khá ngon miệng và hợp dinh dưỡng đó là cháo gạo đỏ ăn với cá bống thệ kho rim.

    Gạo đỏ dùng để nấu cháo là gạo đặc biệt- người địa phương gọi là gạo hẻo rằn hay gạo chiêm– được xay xát vừa phải để còn lớp cám mỏng quanh hạt có người dùng luôn gạo lức để khi nấu hạt cháo ít nát và giữ được mùi thơm béo đặc thù của loại gạo quý này. Nồi cháo gạo hẻo rằn dành riêng để ăn với cá bống thệ kho rim phải được nấu theo “kiểu Huế”, rất công phu và tốn thời gian: cho dùng nhỏ lửa và đun lâu, hạn chế đảo quậy để hạt gạo nở to, mềm ra nhưng không bị nát nhừ như khi nấu các loại cháo cá khác.

      Cá bống ở Việt Nam có khá nhiều loại to nhỏ khác nhau như: bống tượng, bống dừa, bống đao, bống kèo, bống bùn (cá thòi lòi), bống cát (mùn mủn), bống mũ (mun), bống sao, bống trứng…Riêng cá bống kho khô để ăn với cháo ở Huế là loài cá bống “thệ”; cá bống này có tên như thế vì thường đánh bắt được ở nơi nước chảy xoáy (thệ thủy: nước xoáy) như vùng Vỹ Dạ, Truồi … Cá bống thệ to hơn cá bống cát sông Trà Khúc, phần thân cá bống thệ rất giống cá thòi lòi miền Nam.

      Xưa nay đa số các bà nội trợ Huế đều kho cá bống thệ theo quy trình kinh điển: cá bống đánh bắt về, rửa sạch, làm ruột, giữ lại trứng, ướp mắm muối, tiêu… khoảng nửa giờ mới đem kho “rim” -kho ít nước, lửa nhỏ liu riu nên thời gian kho rất lâu như rim mứt- với thịt heo mỡ thái nhỏ; kiểu kho rim này gần giống “kho tộ” của miền Nam. Nồi cá bống thệ được gia rất nhiều ớt chín đỏ để nguyên trái (không dùng ớt xanh vì sẽ xỉn màu, xấu nồi cá), rau răm và đường “bát” chẻ thành viên, điểm đặc biệt là không bao giờ gia thêm bột ngọt hoặc ruốc như khi kho các loại cá khác. Vì được ướp mắm muối khá lâu trước khi kho và được rim nhỏ lửa, khi bày dọn ra đĩa bàn ăn thịt cá bống thệ thường vàng ươm, gần như trong suốt còn thân cá thì săn cứng và cong lại như chữ C, người Huế gọi là “cá ngó đuôi” là đúng kiểu.  

      Món cá bống thệ kho khô đã có ở Huế rất lâu đời, từ gia đình quan quý đến bình dân đều biết chế biến và xử dụng. Theo sách Thực Phổ Bách Thiên của phu nhân Hiệp tá Đại học sĩ Hồng Khẳng (con vua Minh Mạng) cách kho cá bống thệ thể hiện trong bài thơ sau:

       “Thệ, dừa tánh hạp với rau răm,

        Thịt xắt kho ngang lót cá nằm,

        Mắm, muối, ớt, đường, tiêu một chút,

        Coi vừa lửa dịu ấy là tầm.”

    Dưới góc độ ẩm thực và dinh dưỡng, món cháo gạo đỏ cá bống thệ kho rim của Huế đúng là một món ăn ngon và độc đáo: vừa rất đặc hữu địa phương (con cá và cách rim) vừa có giá trị dinh dưỡng tốt. Theo kinh nghiệm địa phương và Đông Y, cháo gạo hẻo cá bống thệ rất “hiền” có thể dùng cho người bình thường, người già và cả người bệnh tật.   

      Tính trên 100g thực phẩm ăn được

  THỨC ĂN                                
    % kcal g g g g mg mg mg mg mg mg mcg mcg mg mg
1 Gạo tẻ   1  344 7,9  1,0 76,2  0,4 0 30 104,0 1,3 5 241  0  0  0,10   0,0
2 Cábống  45  70 15,8  0,8 0,0 0,0 0 17 181,0 0,9 0  0 0  0 0,02 0,0  
                                           

 

                                                       (nguồn Viện dinh dưỡng quốc gia)

SƠN MÀU THỨC ĂN

Tháng Bảy 16, 2009

      MẸO VẶT CHO NGƯỜI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG: 

            XANH ĂN, ĐỎ BỎ, VÀNG CHẦN CHỪ   

       TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

   Một băn khoăn lớn của người bệnh đái tháo đường là làm thế nào nhận biết dễ dàng và nhanh chóng loại thực phẩm thích hợp cho mình khi chuẩn bị bữa ăn. Đã có nhiều hướng dẫn quá “chuyên sâu” nhưng khó khả thi trong thực tế. Chúng tôi giới thiệu hai cách đơn giản giúp người đái tháo đường tiện chọn thức ăn thích hợp cho mình đó là dựa vào chỉ số đường máubảng màu thức ăn.

    Chỉ số đường máu là gì?

    Thức ăn khi vào cơ thể đều sẽ được tiêu hóa thành những phân tử nhỏ nhất mới hấp thu được vào máu, sau đó được đưa về gan và các cơ quan khác trong cơ thể, phần tử nhỏ nhất của chất đường là glucose, do đó tất cả mọi loại thức ăn đều có thể làm tăng đường huyết (glucose máu) nhanh hay chậm, ít hay nhiều. Để biết khả năng làm tăng đường huyết nhanh hay chậm của một thực phẩm người ta dùng khái niệm chỉ số đường máu (glycemic index, GI). Thực phẩm nào có chỉ số đường GI càng cao đồng nghĩa thực phẩm đó được tiêu hóa và hấp thu nhanh và sẽ làm tăng glucose máu nhanh và ngược lại các thực phẩm có GI thấp sẽ được hấp thu và làm tăng đường huyết chậm. Người đái tháo đường cần ăn thực phẩm có GI càng thấp càng tốt. Lấy đường glucose với GI chuẩn = 100. Chúng ta có xếp một số thức ăn thông thường theo chỉ số đường huyết GI thành 3 nhóm:

   * Nhóm thực phẩm có GI   ≤ 55   là  chỉ số đường thấp.

  Nước táo (không pha thêm đường), Đậu trắng, Đậu nành, Đậu phộng, Cà rốt, Fructose (có nhiều trong trái cây ít ngọt như Nho, Táo. Bưởi, Xoài..).

   * Nhóm thực phẩm có GI   từ 56- 69 là  chỉ số đường trung bình.

  Khoai tây nướng, Bánh sừng trâu, Dứa (thơm), Mỳ sợi, Cam, Sữa chua.

   *Nhóm thực phẩm có GI    ≥ 70 là chỉ số đường cao.

  Mạch nha, Mật ong, Nước mía, Chuối, Bánh quy ngọt, Bánh mì trắng, Bánh bột gạo trắng.

      Bảng màu thức ăn là gì?

  Khái niệm chỉ số đường máu mang tính lý thuyết, khá trừu tượng và khó nhớ. Để bệnh nhân tiện lợi chọn thức ăn các nhà dinh dưỡng “ lâm sàng” kinh nghiệm đã “vẽ” thức ăn vào 3 màu xanh, vàng và đỏ như tín hiệu giao thông 

   *Bảng màu xanh là thức ăn tốt (nên chọn).

 –Các loại bánh mì không trộn phụ gia

 -Gạo và các chế phẩm như mì, bún, tấm…

 -Sữa lạt đã lọc bớt chất béo, sữa chua, phó mát không bơ..

 -Lòng trắng trứng gà, vịt..

 -Các loại thịt nạc: thịt bò, bê, gà, chim…tránh thịt ngan, thịt vịt vì các thủy cầm thường nhiều mỡ.

 – Tất cả các loại cá, cá béo nên bỏ phần mỡ .

 *Bảng màu vàng là thức ăn cần thân trọng(nên hạn chế).

   – Bánh mì trắng, mì ngọt, khoai tây.

   – Bánh bột gạo ngọt, có nhân hoa quả.

   – Bơ thực vật (sản xuất theo công nghệ cũ).

   – Các loại nước quả đậm đặc, coca cola, pepsi…

   – Dầu thực vật.

   – Các loại rau quả đóng hộp.

   – Các loại nước uống, nước khoáng có đường.

    *Bảng màu đỏ là thức ăn cấm (cần tránh).

      – Tất cả các loại đường ngọt (sugary carbohydrate).

      – Các loại bánh, chế phẩm có đường ngọt.

      – Các loại quả ngọt sấy khô, quả ngâm đường.

      – Bơ, mỡ động vật.

      – Lòng đỏ trứng gà, vịt…

      – Các loại cá nhiều mỡ như cá tra, ba sa, cá ngâm dầu.

      – Các loại thức uống có cồn.

   Hiện nay trong nhiều siêu thị, quầy thực phẩm đóng gói sẵn nhiều loại nhãn mác đã có ghi cả chỉ số đường máu lẫn sắc màu cũng như calo năng lượng của từng món thực phẩm để khách hàng dễ bề chọn lựa.

 

 

 

BỆNH MẮT DO ÁNH SÁNG.

Tháng Bảy 16, 2009

MẮT 3

               NẮNG CHÓI MỜ “CỬA SỔ” !

       Nước ta miền nhiệt đới, mùa hè nắng nóng chói chang. Nắng đẹp, nắng ấm…  nhưng ánh nắng gay gắt mùa hè với chùm tia tử ngoại (UV) trong nó cũng mang đến những tác hại cho những cơ quan bị chiếu trực tiếp như da, tóc và đặc biệt lên mắt, cửa sổ tâm hồn, gây ra một số bệnh lý nguy hại.

   Ngoài bị chói lòa và mệt mỏi mắt tức thời, mắt người tiếp xúc ánh nắng hè chói chang nhiều quá có thể bị bỏng mắt do ánh sáng mạnh cấp tính  Các dấu hiệu bỏng mắt thường xuất hiện từ 6 đến 10 giờ sau khi tiếp xúc ánh sáng chói: bệnh nhân đau mắt dữ dội, chảy nước mắt dàn giụa, mắt sợ ánh sáng, mi mắt và kết mạc phù nề, co quắp mi. Soi dưới sinh hiển vi thấy giác mạc kém bóng láng và có nhiều chấm bắt màu fluorescin thể hiện tình trạng giác mạc bị viêm cấp dạng chấm nông. Chấn thương do ánh sáng là những trường hợp mắt bị phù ở điểm vàng (hoàng điểm), mức độ phù tùy thuộc thời gian và cường độ ánh nắng: nhẹ có thể tự phục hồi, nặng có thể để lại sẹo vĩnh viễn.

      Nếu tiếp xúc dài ngày với cường độ ánh sáng lớn thì về lâu về dài có thể bị 3 bệnh: (1) đục thủy tinh thể, bệnh đục thủy tinh thể còn gọi là cườm mắt, bệnh thường gặp ở người già, tỷ lệ bệnh này nhiều hơn với những người trẻ phải tiếp xúc ánh sáng chói như thợ hàn, thợ kim hoàn dùng đèn xì không che chắn tốt hoặc làm việc dưới ánh nắng hè gay gắt, (2) bệnh mộng thịt mắt, bệnh nhân có màng thịt mọc ra che khuất một phần giác mạc ảnh hưởng lên thị lực và (3) thoái hóa võng mạc (đáy mắt) các chấn thương mắt do ánh sáng, vùng điểm vàng có thể bị tổn thương gây sẹo hoặc thoái hóa sau này.

    Tất cả các biến chứng cấp hay mạn tính trên đều có thể phòng ngừa quá dễ dàng, với biện pháp đơn giản: mang mắt kiếng thích hợp. Kính râm ngoài tác dụng như món hàng thời trang, còn có tác dụng bảo vệ mắt chống tia tử ngoại có trong ánh sáng. Với những chủng loại kính râm “tiêu chuẩn”, với lớp chất bảo vệ đặc biệt có thể ngăn chăn 99-100% tia cực tím. Cần lưu ý là kính “polarized” chỉ có khả năng ngăn chói mắt nhưng không có tác dụng ngăn cản tia tử ngoai. Cần hết sức lưu ý là nếu chúng ta mang kính râm “dỏm”, mắt chúng ta vừa không được bảo vệ vừa tổn hại nhiều hơn, lý do là các kính râm dỏm này thật sự chỉ là kính “đen”, không có lớp cản tia tử ngoại, chỉ cản sáng và theo sinh lý học khi mắt bị thiếu sáng thì đồng tử (con ngươi) sẽ mở rông để tiếp xúc thêm ánh sang theo phản xạ, do đó càng hại thêm. Một loại kính khá thông dụng hiện nay là kính đổi màu, có độ sậm màu sắc thay đổi theo cường độ ánh sáng: trời càng sáng càng kính càng sậm màu và ngược lại do đó chúng ta cứ thoải mái mang kính thường xuyên. Ngoài tia tử ngoại hiện nay tác hại của tia sáng “xanh” đang được bàn cãi, nhiều ý kiến cho rằng tia xanh còn độc hại hơn cả tia UV.

   Tóm lại mang kính râm là một biện pháp đơn giản nhưng hữu hiệu để bảo vệ mắt mùa hè. Người tiêu dùng cần chọn được kính “chuẩn” để xử dụng, như chuẩn Mỹ ANSI Z 80.3- 2008, chuẩn Autralia AS 1067 hay chuẩn Âu Châu EN 1836:2005. Cần có bác sĩ chuyên khoa mắt tư vấn, cửa hàng tín nhiệm để chọn được kính tốt vì mang kính “dỏm” sẽ nguy hại nhiều lần hơn so với không mang gì !!!

Ảnh: Khám mắt tại Bệnh viện Đà Nẵng (ảnh T.B.Thoại)