Archive for Tháng Mười, 2009

UNG THƯ TUYẾN GIÁP

Tháng Mười 26, 2009

    Câu hỏi

Tôi năm nay 27 tuổi, nữ, cân nặng ổn định ở mức 50 kg (trước khi mang thai), cao 1,64m. Năm 2000 tôi bị ung thư tuyến giáp ( K giáp dạng nhú), mổ năm 2000, sau đó tiếp tục điều trị bằng I131 qua 5 năm tại bệnh viện Chợ Rẫy, theo như bác sĩ điều trị cho biết thì tôi có một số hạch di căn ở cổ và đã hết sau các đợt điều trị, chỉ còn lại 1 hạch bị xơ cứng không làm mất đi được, và cũng không còn nguy hiểm gì cho tôi. Năm 2008, bác sĩ điều trị tuyên bố tôi đã khỏi bệnh hoàn toàn. Hiện tại tôi đang dùng  Levothyrox 100, mỗi ngày 1,5 viên. Tháng 3 năm 2009, tôi thông báo cho bác sĩ điều trị của mình rằng tôi có thai, và liệu tôi có nên đi khám lại? Bác sĩ điều trị khẳng định rằng điều đó không cần thiết và khuyên tôi giữ nguyên liều 1,5 viên/ngày. Tôi không dám cãi lời nhưng rất lo lắng vì theo nhiều tư liệu tôi tìm hiểu, nhu cầu hoc môn giáp của phụ nữ trong thời kỳ mang thai sẽ tăng lên, nghĩa là tôi nên uống liều cao hơn. Nhưng với sự khẳng định của bác sĩ điều trị là không cần xét nghiệm lại hay tăng liều từ lúc tôi mang thai tới giờ, tôi vẫn lo lắng vô cùng. Hiện thai đã được 30 tuần, tôi vẫn dùng 1,5 viên Levothyrox 100 mỗi ngày. Tôi có nên đi xét nghiệm bịnh tình lại không? Có trễ quá không? Con tôi có bị ảnh hưởng gì không? Có loại thức ăn nào bổ sung hóc môn giáp không? Cảm ơn các bác sĩ đã lắng nghe tôi và giúp tôi.

    Best regards,     

     An Duong

    Trả lời

    Ung thư biểu mô dạng nhú chiếm đến 80% số ca ung thư tuyến giáp. Thường ung thư nhú này thuộc loại bình giáp, có nghĩa là nồng độ hócmôn tuyến giáp ở mức bình thường, u nhú tương đối “hiền” và tiến triển điều trị thường “khả quan” hơn so với các loại u khác.

      Điều trị tối ưu của ung thư giáp hiện nay là phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp (PTCG), hổ trợ bằng xạ trị iode phóng xạ (I 131 ) để tiêu diệt các chủ mô tế bào tuyến giáp còn sót lại hay đã di căn ra nơi khác và sau đó điều trị bằng hócmôn tuyến giáp thay thế (HRT).

     Chất iode, kể cả iode phóng xạ, một khi được đưa vào cơ thể, thì có đến 99% được tế bào tuyến giáp bắt giữ (up take), chỉ 1% còn lại phân tán khắp toàn thân; do đó khi điều trị iode phóng xạ lượng phóng xạ đến các cơ quan khác là quá nhỏ, không đáng kể, vả lại dù chưa có bằng chứng về quái thai và ung thư nhưng để an toàn y học chỉ cho phép phụ nữ tuổi sinh có thai 2 năm sau khi điều trị iode phóng xạ.

      Liệu pháp HRT nhằm hai mục đích: bù lại sự thiếu hụt các hócmôn tuyến giáp như khi chưa PTCG và ức chế sự tiết hócmôn TSH từ tuyến yên, vì TSH sẽ kích thích các mô tế bào tuyến giáp còn lại phát triển (tái phát). Liều L-Thyroxin (Levothyrox) trung bình từ 100 đến 200µg/ ngày, nhiều tác giả khuyên nên điều trị với liều cao, nếu bệnh nhân “chịu” được, để có nồng độ TSH trong giới hạn bình thường (0,4µU/mL) sẽ tốt cho bệnh nhân hơn.    

      Tuyến yên (não bộ) thông qua hócmôn TSH điều khiển tuyến giáp (sản xuất hócmôn tuyến giáp). Do đó, chức năng tuyến giáp được kiểm tra qua: một là các hócmôn tuyến giáp T3, T 4 , fT 3 , fT 4 cũng như hócmôn tuyến yên TSH và hai là siêu âm để xem cấu trúc, kích thước của tuyến giáp. Những xét nghiệm, thăm dò này hiện nay hầu như các bệnh viện tỉnh, thành phố đều làm được.

      Như vậy bạn đã được chẩn đoán, điều trị và hướng dẫn rất chuẩn mực. Việc có thai theo tôi chắc chắn sẽ là an toàn, thuận lợi cho cả mẹ lẫn con.

     Về câu hỏi liều hócmôn tuyến giáp bạn đang được dùng đã đủ hay chưa? Theo lý thuyết thì khi có thai tuyến giáp có hơi “tăng năng” (cường giáp), nhiều bệnh lý sản khoa như thai trứng, u buồng trứng, u màng nuôi… cũng làm cường giáp. Để kiểm tra liều lượng Levothyrox đủ hay chưa quá dễ dàng: xét nghiệm nồng độ các hócmôn liên quan.

      Một điều bạn hết sức lưu ý là hócmôn tuyến giáp rất quan trọng cho phát triển của thai nhi cũng như đứa trẻ về sau này. Suy giáp bẩm sinh là một bệnh rất nặng, ảnh hưởng cả tương lai phát triển thể chất và tinh thần đứa trẻ, nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị đúng đắn đứa trẻ sẽ hoàn toàn bình thường; may mắn là “sàng lọc” bệnh suy giáp bẩm sinh rất dễ dàng với phương pháp đo TSH trong “giọt máu gót chân” trẻ sơ sinh, hiện nay quá phổ cập trong bệnh viện, tất cả em bé với mẹ có bệnh tuyến giáp như bạn bắt buộc phải sàng lọc ngay khi mới lọt lòng.

     Câu hỏi cuối cùng là có thức ăn nào bổ sung hócmôn giáp hay không? Câu trả lời là không, thức ăn cung cấp iode và axít amin tyrosin là hai “nguyên liệu” đầu vào để sinh tổng hợp hócmôn giáp.    

Advertisements

CHẢY MÁU CHẤT XÁM (cont.)

Tháng Mười 22, 2009

PHÍA SAU MỘT QUYẾT ĐỊNH

PGS.TS Nguyễn Minh Hòa ĐHQG TPHCM

TT – Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An vừa ra quyết định nhận cử nhân Phan Thị Cảnh vào đội ngũ công chức tỉnh nhà (không biết Phan Thị Cảnh còn mặn mà nữa không sau những ồn ào của dư luận). Vậy là câu chuyện đã vãn nhưng không ai đảm bảo rằng “hiện tượng Phan Thị Cảnh” không còn xuất hiện ở một tỉnh A, B nào đó.

Tôi đã từng sửng sốt gặp một cựu sinh viên giỏi của mình bán nước ngọt bên lề đường. Cậu ấy rất yêu quê hương và mong ngày tốt nghiệp về phụng sự tỉnh nhà.

Trước ngày khăn gói vào Sài Gòn học, các chú bác lãnh đạo đã gặp, động viên, hứa hẹn mong các cậu sớm trở về thay cho đội ngũ đã lớn tuổi không được đào tạo bài bản. Và cậu cử nhân luật cùng nhóm bạn đã trở về trong sự hào hứng, nhưng trớ trêu thay khi đến trình diện thì các chú, các bác ai cũng có trong tay một vài tấm bằng cử nhân tại chức, thậm chí có chú, bác còn kịp có cả bằng thạc sĩ! Vậy là những chỗ quy hoạch định dành cho các cậu khi xưa nay không còn nữa, đơn xin việc đành cất vào ngăn kéo.

Tất nhiên không phải ai cũng rơi vào hoàn cảnh như thế, cũng có người may mắn được nhận vào làm việc, nhưng công việc của kỹ sư, cử nhân chỉ là sai vặt như lau bàn ghế, pha trà, sắp xếp hồ sơ, đánh văn bản, chuyển đi các phòng ban… Chán nản, không ít người lại bỏ đi thành phố.

Ai cũng biết nghịch lý này, nhưng bỏ tại chức thì không được vì đã có vị lãnh đạo cao cấp nói rằng “tại chức là nồi cơm” của các trường công lập. Khi nào không còn hệ tại chức, hoặc chất lượng tại chức đảm bảo ngang bằng như chính quy thì khi đó các nhân tài trẻ mới may ra có chỗ đứng.

Các tỉnh hiện đang đua nhau đưa ra các lời kêu gọi thống thiết, kể cả sẵn sàng trải thảm đỏ để “chiêu hiền đãi sĩ”, số tiền “khuyến tài” nâng lên theo từng năm, kèm theo nhà đất, căn hộ… Có vẻ quá lời khi nói rằng hình như đó chỉ là mốt thời thượng, một hình thức PR tỉnh nhà cũng biết “trọng kẻ sĩ”.

Vài năm trước đây, có một vị giáo sư được nước ngoài phong hẳn hoi đã tình nguyện về một thành phố ở miền Trung làm việc, nhưng mấy năm trời chỉ có mỗi việc làm thư ký sắp xếp lịch làm việc cho cấp trên, cắp cặp đi cùng lãnh đạo để gỡ bí khi gặp câu hỏi khó của cấp trên nữa. Khi vị lãnh đạo đó hết nhiệm kỳ thì ngài giáo sư khả kính kia cũng nhận được cái vỗ vai của vị kế nhiệm là “game over” (hạ màn).

Lại có một vị giáo sư danh tiếng khác được cố hương mời từ Sài Gòn trở về để nhận chức hiệu trưởng một trường đại học tỉnh nhà, nhưng chỉ sau một tháng làm quen công việc đã thấy mình thân cô thế cô chả thuộc phe nhóm nào cả, trong khi ngày nào cũng nhận được dăm ba lời gửi gắm của các quan chức đầu tỉnh đưa bà con vào làm, đưa cháu con vào học…

Ở nước ta việc chấp nhận và trân trọng cấp dưới trẻ hơn, giỏi hơn mình chưa thành một thứ văn hóa, phổ biến vẫn là “sống lâu lên lão làng”, là “xoa đầu, ban ơn”. Hơn nữa các cơ quan cấp tỉnh quanh quẩn chỉ là những công việc hành chính, sự vụ, ít có đất dụng võ cho các nhà khoa học thực tài.

Thế rồi theo năm tháng tài năng mòn dần đi, nhiệt huyết cũng theo đó mà hạ xuống, họ trở thành những công chức mẫn cán “sáng cắp ô đi, chiều ôm cặp về”, nhiều người cũng thay hình đổi dạng cho phù hợp với hoàn cảnh. Do vậy, các chương trình kêu gọi người tài chưa thấy thành công là mấy.

Muốn các chương trình lớn như thế thành công thì cần phải thay đổi nhận thức sâu sắc hơn nữa, thay đổi chế độ đào tạo, tuyển dụng và đãi ngộ mang tính cách mạng chứ không phải phong trào, và hơn thế nữa là một tinh thần dũng cảm chấp nhận “con hơn cha là quốc gia có phúc”.

NẤM RƠM

Tháng Mười 20, 2009

Nấm RƠM kho thịt

NẤM RƠM:

MÓN ĂN,“THUỐC QUÝ” TỪ RUỘNG ĐỒNG!

TS.BS Trần Bá Thoại. Bệnh viện Đà Nẵng

Nấm rơm còn tên gọi khác là nấm thịt, bình cô, lan hoa cô, tên khoa học là Volvariella volvacea, thuộc họ Nấm rơm -Plutaceae. Cũng như nhiều loại nấm khác, nấm rơm cũng đã được con người dùng làm thực phẩm và dược phẩm từ rất lâu đời. Trong thực phẩm hàng ngày của người Việt Nam chúng ta, nấm rơm chiếm một vị trí quan trọng vì tính chất phổ biến, lại dễ chế biến với nhiều thứ khác để thành nhiều món ăn ngon và đặc biệt nấm rơm rất dễ nuôi trồng trên rơm rạ, vốn nhiều vô kể ở nông thôn, dưới ruộng đồng.

Nấm rơm có thể canh tác quanh năm, mùa nắng gió phải che chắn để đảm bảo độ ẩm, mùa mưa cần trồng trên nền cao trong nhà có mái che để giảm độ ẩm và tránh ngập úng. Nấm rơm thường mọc thành cụm trên rơm rạ mục, ngoài rơm rạ truyền thống hiện nay người ta có thể trồng nấm rơm trên nhiều loại giá thể khác như mùn cưa, giấy vụn, thân các loại cây đậu, cây gỗ, bã mía, bông phế thải, xác bã dong riềng, thân bèo lục bình…đều cho kết quả tốt. Sau khi ủ rơm từ 10-15 ngày, nấm phát triển và có thể thu hoạch, thường một mẻ thu hái hai đợt cách nhau khoảng một tuần. Để nấu món ăn, người ta thường chọn nấm rơm còn non, khi mũ nấm chưa bung ra và thân nấm còn được bọc kín bên trong, hình dạng như quả trứng. Danh sách các món ăn có dùng nấm rơm khá dài: kho thịt, xào sả ớt, xào sa tế, xào mì căn, kho tiêu, kho tàu hủ, om nước dừa, nấm rơm xào ếch, canh nghêu nấm rơm, bí đỏ hầm nấm rơm, lươn nướng nấm rơm, canh mướp nấu nấm rơm (món  chay), cháo cá trê nấm rơm, lẫu nấm.v.v…

Thành phần dinh dưỡng của nấm rơm khá phong phú, trong 100 gam nấm rơm khô đúng chuẩn có chứa 21-37g chất đạm, 2,1- 4,6g chất béo, 9,9g chất bột đường, 21g chất xơ, rất nhiều các yếu tố vi lượng như Can-xi, Sắt, Phốt-pho, các vitamin A, B1, B2, C, D, PP…Đặc biệt trong nấm rơm, thành phần đạm vừa nhiều vừa đầy đủ các a-xít amin tối cần thiết, hơn cả trong thịt bò và đậu tương. Với thành phần dinh dưỡng tốt như thế từ lâu trong y học, nấm rơm được chỉ rõ là một thức ăn tuyệt vời, có thể biến chế nhiều “thực phẩm chức năng”, món ăn “thuốc” để hỗ trợ chữa bệnh, đặc biệt với năm loại bệnh nội tiết chuyển hóa nổi cộm hiện nay là: béo phì, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, xơ vữa động mạch và tăng huyết áp. Các nhà khoa học Nhật và Mỹ cũng cho rằng các polysaccharide đặc biệt trong các nấm ăn như nấm hương, nấm đông, nấm mộc nhĩ và nấm rơm đều có chứa hoạt chất chống lại bệnh ung thư.

Theo Đông Y nấm rơm vị ngọt, tính hàn, có tác dụng bổ tỳ, ích khí, tiêu thực, khử nhiệt, tăng đề kháng. Phương Đông cũng đánh giá nấm rơm là thực phẩm tốt và có sử dụng nấm rơm trong một số bài thuốc chữa bệnh:

*Nấm rơm xào tôm và rau dền, để chữa di tinh, hoạt tinh, yếu sinh lý.

*Nấm rơm xào với thịt chim sẻ, thịt ếch tác dụng cường dương, kích dục..

*Canh nấm rơm nấu với đại táo, bồi bổ và tăng cường sức khỏe.

* Nấm rơm hầm đậu phụ, bồi bổ dạ dày, tỳ vị suy yếu, chống ung thư.

* Nấm rơm xào trứng bồ câu hay trứng cút, bổ gan thận, ích khí huyết, tăng cường sức khoẻ..

TWO IMPORTANT PROBLEMS IN PANDEMIC OF FLU A H1N1

Tháng Mười 19, 2009

MÙA CÚM H1N1: HAI ĐIỀU CẦN LƯU Ý

TS.BS. Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

Trong y học có đến cả ngàn căn bệnh gây ra sốt, cúm chỉ là một trong số những bệnh đó, có nghĩa là trong mùa dịch không phải ai sốt cũng là bị cúm!!! Cúm là một bệnh lây nhiễm đường hô hấp, ước tính hằng năm gây bệnh từ 5 đến 20% tổng số dân. Vào cao điểm dịch cúm chỉ 70% số ca bệnh là do vi-rút cúm, 30% còn lại là do các vi-rút “đường hô hấp” khác không phải vi-rút cúm gây ra. Hội chứng cúm được xác định là một “hệ thống” với: sốt cao, ho nhiều, đau đầu, nhức mỏi  và rát họng.

Vi-rút cúm A H1N1 là một loại vi-rút mới, chưa từng thấy trước đây; bộ gien của nó pha trộn gien của các loại vi-rút cúm người, cúm gia cầm và cúm lợn. Trong khi vi-rút cúm A H5N1 lây qua máu, mô tế bào..của gia cầm thì vi-rút cúm A H1N1 chỉ lây qua đường hô hấp nhự các cúm mùa thường. Vì cúm AH1N1 lây lan mạnh -chữ A để biểu thị tính nguy hiểm- ngày 11/6/2009  WHO đã chính thức nâng dịch cúm A H1N1 lên hang mức “đại dịch” (pandemic). Thời gian ủ bệnh của cúm A H1N1 là 7 ngày, thời gian lây bệnh là 1 ngày trước khi phát bệnh và kéo dài thêm 7 ngày sau đó.

Do đó, trong mùa “đại dịch” hiện nay cần lưu ý hai điều:

* Về phòng bệnh: Vi-rút cúm A H1N1 lây lan chủ yếu qua hai cách: một là đường hô hấp với các giọt nước li ti từ người bệnh bắn ra khi ho, hắt hơi …và hai là đường tiếp xúc với các đồ vật có nhiễm vi-rút như bắt tay, núm vặn cửa, cầu thang…. Do đó Bộ Y tế khuyến cáo mọi người dân đều nên tự phòng bệnh với những biện pháp đơn giản: bịt khẩu trang khi tiếp xúc ở chốn đông người, che miệng khi ho, không khạc nhổ bừa bãi, rửa tay với xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, vệ sinh môi trường sống và làm việc.v.v…

* Khi có các dấu hiệu cúm (sốt cao, ho nhiều, đau đầu, nhức mỏi và rát họng) cần:

– Đến cơ sở y tế gần nhất để được khám và tư vấn.

– Xét nghiệm nhanh cúm A, có hai tình huống xảy ra: một là kết quả âm tính yên tâm là không bị nhiễm cúm A có thể điều trị tại nhà và hai là kết quả dương tính có nghĩa là mắc cúm A, nhưng chưa chắc đã là bị cúm A H1N1 vì vi-rút cúm A H1N1 chỉ là một con duy nhất trong hơn cả trăm con vi rút cúm A, đặc biệt với những người có nguy cơ cao như phụ nữ có thai, trẻ em dưới 5 tuổi, người già, người béo phì, người có bệnh mãn tính, người suy giảm miễn dịch…cần cách ly theo dõi sát sao hơn, làm xét nghiệm PCR để khẳng định vi-rút  hoặc cho điều trị ngay sau khi hội chẩn “chuyên khoa”.

TRẺ EM VIET NAM BỊ ”VUÔNG” “LARGER” AND SHORTER!!!

Tháng Mười 18, 2009

vitamin D

OvuongThucAn1_R

     TRẺ EM VIỆT NAM ĐANG “VUÔNG”

                  Trần Bá Thoại

     Hội thảo về Dinh dưỡng hợp lý cho sự phát triển của trẻ em tổ chức ngày 17/10/2009 tại Hà Nội, cho thấy trẻ em Việt Nam đang được nuôi dưỡng không hợp lý, trong khi trẻ em tuổi học đường nói chung mới chỉ được cung cấp 90% năng lượng cần thiết cho cơ thể phát triển thì ở các thành phố lớn trẻ lại bị “thừa năng lượng”, đến 125% nhu cầu. Chất can-xi, rất cần để cải tạo chiều cao, bị thiếu hụt trầm trọng chỉ được khoảng 60%  nhu cầu. Hậu quả phối hợp hai bất hợp lý này là  nhiều trẻ em Việt Nam đang phát triển “chiều ngang” hơn phát triển chiều cao, nếu không điều chỉnh trẻ sẽ phát triển thành hình “vuông”!!!

      Theo số liệu nhân trắc của Bộ Y tế (2000) chiều cao trung bình của người trưởng thành Việt Nam (26 đến 40 tuổi) còn hết sức khiêm tốn, nam trung bình 162,3 cm và nữ trung bình 152,3 cm. Trong khi trung bình của thế giới: nam 18 tuổi là 176,8 cm và nữ là 163,7 cm. Chẳng cần phải so sánh với người Âu, Mỹ mà ngay cả với các nước trong khu vực Đông nam Á như Mã Lai, Thái lan hay Singapore…chúng ta cũng thấp hơn từ 2 đến 6 cm.

        Các nghiên cứu Nhật Bản cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến chiều cao của con người gồm: chế độ dinh dưỡng chiếm đến 32%, vận động thể dục thể thao chiếm 20%, môi trường tâm lý và xã hội chiếm 16% và yếu tố chủng tộc di truyền chiếm 23%. Như vậy có đến hơn ba phần tư ( 77%) của  những yếu tố ảnh hưởng lên chiều cao là các yếu tố “có thể cải tạo được” (“modifiable” factors ).

        Vào thập niên 40 của thế kỷ trước chúng ta thấy người Nhật rất thấp, đến mức khi nói về họ nhiều khi được ghép thêm tính từ lóng Nhật “lùn”, vào thời đó người Việt chúng ta đã cao hơn họ 2 cm, nhưng đến nay dù bị bại trận thê thảm trong Thế chiến thứ II họ lại cao hơn ta đến 10 cm !!!

        Để cải tạo chiều cao của dân tộc mình, nhiều nước đã đề ra chương trình, kế hoạch cải tạo dinh dưỡng cho thế hệ trẻ, cụ thể là cho học sinh. Người Nhật đã đưa ra một quốc sách là chương trình “Bữa ăn trưa học đường”: món ăn buổi trưa tại trường được người ta chăm chút, chọn lựa cẩn thận, theo những tài liệu, hướng dẫn khoa học chính thống. Nước Anh chương trình bữa ăn trưa đã được quy định trong Luật Giáo dục: trường Tiểu học, Trung học và Cao đẳng có trách nhiệm cung cấp bữa ăn trưa cho học sinh. Tại Hoa Kỳ năm 2000 chính phủ tài trợ miễn phí 5,56 tỷ đô la cho ăn trưa và 1,4 tỷ đô la cho bữa ăn sáng ở các trường Tiểu học và Trung học. Tại Indonesia có khoảng 600 ngàn trẻ em tuổi đi học được nhận sữa bò vô trùng miễn phí và khoảng 400 ngàn trẻ khác được nhận sữa đậu nành. Thái Lan cũng có chương trình phát sữa miễn phí cho học sinh tương tự.

     Theo số liệu năm 2007 của Viện Dinh dưỡng quốc gia thì cho đến hiện nay tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thấp còi (còi cọc) vẫn quá cao 33,9% chung cho toàn quốc và vùng sâu vùng xa cao đến 45%. Các nhà dinh dưỡng cũng ước tính có đến một phần ba trẻ em ( 2,6 triệu) bị còi cọc ( suy dinh dưỡng thiếu chiều cao).

      GS.TS Hà Huy Khôi –Hội Dinh dưỡng Việt Nam nhận định: Khi chế độ dinh dưỡng và mức sống được cải thiện thì chắc chắn chiều cao của người Việt Nam sẽ tăng lên. Tại diễn đàn “Quyền uống sữa của trẻ em Việt Nam” do Quỹ “Một triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam” tổ chức ngày 30/7/08 tai TP.Hồ Chí Minh, PGS.TS Lê thị Hợp P.Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia chỉ rõ: Nguyên nhân của tỷ lệ suy dinh dưỡng còi cọc của chúng ta còn cao chủ yếu là do khẩu phần ăn của trẻ em quá thiếu chất dinh dưỡng, đặc biệt là quá thiếu khẩu phần sữa trong bữa ăn hằng ngày.

      Rõ ràng đến hơn ba phần tư yếu tố ảnh hưởng chiều cao là có thể cải tạo, điều chỉnh được. Tại sao không cho con em mình cơ hội để “xứng tầm” với bè bạn năm châu bốn biển, đó chính là câu hỏi của chúng ta !!!

 

NGỘ ĐỘC XYANUA, CYANIDE INTOXICATION

Tháng Mười 15, 2009

MĂNG XYANUA tuoitre

NGỘ ĐỘC XYANUA: CÒN ĐÓ NỖI LO!

TS.BS TRẦN BÁ THOẠI (Bệnh viện Đà Nẵng)

Bình Chánh, TP HCM, một buổi chiều, 10 phút sau buổi nhậu với “mồi” là măng xào ba đệ tử lưu linh đều lên cơn co giật, khó thở, tím tái …Dù đã được đưa ngay vào bệnh viện cấp cứu, nhưng hai anh V.V.T (37t) và Ph.V. Ch (29t) đã tử vong còn anh V.V.Ch (32t) nhờ vào bàn nhậu sau và ăn ít nên may mắn được cứu sống. Thủ phạm gây độc là chất xyanua chứa trong măng tre. Tại Phước Sơn, Quảng Nam cháu Ng.Ng.D (7t) uống nhầm nước “phân kim” của bố đã tử vong ngay lập tức sau đó, nguyên nhân cũng là bị ngộ độc chất xyanua có trong dung dịch để khai thác sa khoáng lấy vàng.

Xyanua theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là màu “xanh”, chất axít xanh. Axít xyanua và các muối hòa tan của nó là chất cực độc, liều chết người L100 dưới 50 mg. Từ xa xưa xyanua đã được xử dụng làm thuốc độc giết người: phát xít Đức đã dùng hơi xyanua để giết người hàng loạt trong các trại tập trung, nhưng sau đó nhiều nhân vật phát xít lại dùng chính xyanua để tự tử như Rommel, Goering và nghe đâu cả Eva Braun cùng với Hitler !!!.

Tuy là chất cực độc nhưng xyanua lại rất cần thiết và được nhiều ngành công nghiệp xử dụng: (1) trong mạ vàng, bạc, đồng…(2) khai thác vàng sa khoáng (3) sản xuất các chất màu pigment để chế tạo sơn, thuốc vẽ, nhuộm…(4) sản xuất thuốc trừ sâu…

Con người có thể bị nhiễm độc xyanua qua 3 đường: đường tiêu hóa thông qua thức ăn và nước uống, đường hô hấp vì axít xyanua có thể bay hơi và sau cùng xyanua cũng có thể xâm nhập xuyên qua da. Vào cơ thể xyanua sẽ gắn kết chặt “không thể hồi phục” với gốc sắt nhị Fe ++của men cytochrom oxidase trong “chuỗi hô hấp vàng” Warburg. Cytochrom oxidase  là nơi chủ chốt để trao đổi oxy cho cơ thể, cho nên khi men cytochrom oxidase này bị khóa cơ thể không hô hấp được và sẽ bị “ngạt” dù vẫn có đầy đủ dưỡng khí oxy !!!!

Ngoài bị nhiễm xyanua công nghiệp; một số thực vật có chứa gốc xyanua nguy hiểm có thể gây độc cho người. Ví dụ: hạnh nhân đắng, nhân quả mận, lá trúc đào, củ sắn (nhất là sắn trồng ở đất mới khai hoang), măng tre nứa (càng đắng càng nhiều xyanua), đậu rựa, đậu mèo, cây sakê (bread-fruit), một số loại nấm…và trong cánh hoa hồng đỏ (đặc biệt hồng nhung ).

Nước ta trữ lượng vàng nói chung không lớn và rải rác. Một vài địa phương trên vùng rừng núi, thượng nguồn các con sông như Quảng Nam, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Nghệ An…có vàng sa khoáng đang được khai thác đều dùng các công nghệ có xử dụng xyanua. Do chưa xử lý chất thải tốt, một phần vì doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận và quản lý tài nguyên môi trường kém nên nhiều vụ nhiễm độc môi trường nước và ngộ độc cho người đã xảy ra.

Xyanua rất độc, nhưng may mắn là nó lại dễ bị phân hủy bởi nhiều tác nhân lý hóa, trong đó việc oxy hóa với những hóa chất thông thường như clo, nước oxy già, phóc môn, thuốc tím…và ngay cả với oxy trong khí trời. Xyanua trong thực phẩm dễ dàng bị phá hủy bởi nhiệt độ, đun sôi trong 20 phút đã giảm gần 70 phần trăm, dễ bốc hơi bay đi hay được rửa sạch bằng nước. Các thực phẩm có chứa xyanua nếu được chế biến kỹ như luộc sôi nhiệt độ cao, thời gian đun sôi kéo dài, thái thực phẩm ra lát mỏng đem phơi khô, ngâm ủ kỹ…gần như có thể loại bỏ hoàn toàn chất độc chết người này. Ngay cả khi khai thác, bóc tách vàng sa khoáng bằng xyanua xong, nếu chúng ta xử lý chất thải kỹ hoặc  tái sinh để quay vòng công nghệ thì việc ô nhiễm môi trường và gây ngộ độc hầu như không thể xảy ra. Câu kết luận là: Nếu lưu tâm để ý chúng ta hoàn toàn tránh được và tránh dễ dàng các ca chết thảm vì ngộ độc xyanua!!!

BÚN BÒ HUẾ

Tháng Mười 12, 2009

bunbohue 1

BÚN BÒ GIÒ HEO HUẾ

Trần Bá Thoại

Cùng với cơm hến, Bún bò giò heo cũng là một món ăn khá “đặc trưng” của kinh thành Huế. Đây vừa là một món ăn dinh dưỡng vừa là món nhiều màu sắc văn hóa, bún bò Huế thể hiện khả năng hóa giải tài tình tính chất mâu thuẩn của thịt heo và thịt bò trong nấu nướng -“bò nổi, heo chìm”, “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở”- trở thành hòa hợp nhau trong cùng một tô bún; đồng thời cũng cho thấy cái tài khéo léo, đảm đang của các bà nội trợ cố đô.

Bún bò giò heo quá phổ biến và được ưa chuộng ở Thừa Thiên Huế, từ chốn cộng đồng dân dã cho tới giới quý tộc cao sang. Tương truyền rằng, trong một lần đấu xảo tại chợ Tết Gia Lạc -chợ Tết có từ thời vua Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Bình, con thứ tư của vua Gia Long lập ra- món bún bò giò heo của Mệ Lựu đã được chấm giải nhất và được phê là món ăn “Thập toàn. Ngũ đắc”- thập toàn: ngọt ngào, thơm tho, đậm đà, bổ dưỡng, tinh khiết, bắt mắt, khéo chọn, khéo tay, khéo nấu, khéo bày ngũ đắc: biết được, ăn được, nấu được, tìm được nguyên vật liệu và ai cũng mua được .

Mới thoạt nhìn, tô bún bò Huế có vẻ đạm bạc và hơi “khiêm tốn”: Người Huế thường dùng tô nhỏ, chỉ lớn hơn cái chén “B52 nhà binh” một tí. Bún được dùng là “bún tươi”-bún mới ra lò- màu trắng ngà, mềm dẻo và sợi bún lớn hơn so nhiều nơi khác. Nước bún chỉ có chút ít mỡ màng, không bị vẩn đục vì quá nhiều gia vị, những tép bún trắng ẩn hiện chen lẫn với thịt, rau, điểm xuyết vài lát ớt đỏ và váng dầu sả vàng nổi trên bề mặt nhưng vẫn để lộ khoanh  giò heo ngon lành ở dưới. Khoanh giò heo màu vàng ngà, lớp da mỏng ôm quanh khối thịt nạc, lõi xương trắng tròn với tủy nâu ở giữa, tạo hình dáng một đài hoa chưa nở, vì thế người Huế thường gọi là miếng giò “búp”; giò heo lý tưởng là giò sau -“nấu bún giò sau, cho nhau giò trước”. Thịt bò trong tô bún giò là bò bắp (búp) xắt lát mỏng lộ những vân thớ thịt màu nâu đỏ, vàng nhạt, trong trong rất bắt mắt, hấp dẫn.

Có lẽ bún bò Huế thơm ngon, độc đáo và nổi tiếng nhờ ba “bí quyết”:

Một là: thịt heo. Loại heo được chọn thường là heo cỏ mới lớn. Giống heo này da lông màu đen, nhỏ con, lưng oằn.. được nuôi bằng cám gạo nấu chín chung với các loại rau vườn, thân chuối xắt lát, vằm nhỏ…tạo thành một món xúp tổng hợp thường gọi là “cám heo”. Nhờ được chọn giống và nuôi bằng thực phẩm độc đáo như thế nên giò heo này mềm, thơm ngon và rất ít mỡ.…khác hẳn giò của các giống heo “công nghiệp” đại trà khác.

Hai là: nước bún. Dù có nhiều “trường phái” chế biến khác nhau, nhưng  nước bún nói chung của các quán bún bò Huế đều có ba điểm giống nhau: (1) nước bún béo, bùi, ngọt là do các bà nội trợ Huế thường  hầm xương heo, xương bò và có khi thêm cây, củ… (2)  hương thơm chủ lực  của nước bún là hương sả và vị đặc hữu của bún bò Huế là vị ruốc (mắm tôm) – người Huế thường dùng ruốc thay cho bột ngọt khi nấu ăn nên đã có lời ghẹo đùa Huế là dân “mắm ruốc”- , với một “phức hợp” hương vị của sả, ruốc, xương hầm, thịt luộc, chanh, rau, tiêu hành, nước mắm… quyện vào nhau tạo thành mùi vị “bún bò” đặc biệt và (3) nước bún luôn được giữ tương đối trong, không quá mỡ màng và không lềnh bềnh gia vị.

Ba là: các loại rau ăn kèm. Trong “tổ hợp” nhiều thứ loại rau ăn kèm như các nơi khác có ba món “không thể thiếu” là rau thơm Huế (rau thơm trắng, húng quế trắng), giá tươibắp chuối sứ xắt nhỏ; thiếu ba món này tính cách “đặc trưng” của bún bò Huế sẽ không còn !!!. Rau hành còn có thêm vai trò “ điểm trang” cho tô bún đẹp, nhiều màu sắc và hấp dẫn.

Cung cách ăn bún bò của người cố đô cũng là điều đáng bàn. Người Huế trong công việc, suy nghĩ… và cả trong ăn uống luôn luôn toát lên vẻ khoan thai, thư thả… Khi tô bún được dọn ra, thực khách Huế thường rất chi li và  cẩn trọng nêm mắm muối, gia vị và sau đó không quên “điểm trang” rau hành…. Nêm xong xuôi, một muỗng nước bún được húp nhẹ nhàng vừa để nếm vừa khai vị để cảm nhận được cái chất ngon ngọt và đánh giá hương vị đã đạt đúng chuẩn hay chưa. Sau đó thực khách mới nhỏ nhẹ cắn miếng giò búp béo ngậy, còn đượm mùi thịt tươi mới chín. Nhẹ nhàng nhai lát thịt bò bắp mỏng với những đường gân, sứa thịt và viền mỡ thơm mềm giữa hai hàm răng và thưởng thức vị ngọt béo, đê mê kích vào đầu lưỡi. Tô bún bò Huế vốn nhỏ, từ từ vơi dần, như vừa thách thức vừa mời gọi khách ăn thêm.

Nếu có dịp ghé về thăm Huế, du khách có thể dễ dàng tìm ra một quán bún bò giò heo được giới thiệu là đúng là “kiểu Huế” trên nhiều con đường quen thuộc của cố đô; những quán bún này thường phục vụ nhanh chóng, “hiện đại”, tô bún thường to hơn, “năng lượng” ê hề và “màu mè” hấp dẫn hơn trước đây. Nhưng với đa số những người lớn tuổi vẫn còn hoài vọng về một tô bún bò giò heo Huế chính hiệu, thì có lẽ chỉ “ Bún bò Mụ Rớt ” ở dưới Gia Hội họ mới chịu chấp nhận là ngon và “gật gù” đây mới đúng là “gu” của Huế.

XÉT NGHIỆM NHANH CÚM A

Tháng Mười 9, 2009

  HIỂU ĐÚNG CÁC XÉT NGHIỆM VI-RÚT CÚM!

      TS.BS. Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

     Từ giữa tháng 4/ 2009 Magaret Chan (Tổng Giám đốc WHO) cảnh báo việc bùng phát cúm lợn ở Mexico và Mỹ có nguy cơ gây ra đại dịch toàn cầu, vì thế rất nhiều nước như Ai Cập, Canada…bắt đầu cho tiêu hủy lợn. Tom Vilsack (Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ) cho rằng: “Đây không phải là dịch liên quan đến thực phẩm;… ăn thịt lợn không gây ra bệnh” và do đó các quan chức Mỹ đề nghị không nên gọi từ “cúm lợn”, cuối cùng WHO thống nhất gọi tên khoa học là cúm A H1N1. Chính Tổ chức WHO cũng khẳng định vi-rút cúm A H1N1 lây từ người sang người, chứ không phải do người tiếp xúc với lợn bị cúm. Ngày 11/6/2009 WHO chính thức nâng dịch cúm A H1N1 lên mức đại dịch” (pandemic), vì khả năng lây lan mạnh chứ không phải vì tính chất nghiêm trọng của nó .

    Vi-rút cúm A H1N1 được đặt tên như thế với các ý nghĩa: chữ A chỉ mức độ nguy hiểm về y học cao nhất, hơn vi-rút cúm B và vi-rút cúm C, chữ H là viết tắt của Hemagglutinine (yếu tố ngưng kết máu) và chữ N là viết tắt của Neuraminidase (men neuraminidase). Do có nhiều yếu tố ngưng kết H và nhiều loại men N nên có đến cả trăm chủng loại vi-rút cúm A. Vi-rút cúm A H1N1 là một loại vi-rút mới, chưa từng thấy trước đây. Bộ gien của nó pha trộn gien của các loại vi-rút cúm người, cúm gia cầm và cúm lợn. Theo Juan Lubroth (Chuyên gia tổ chức FAO, Liên Hiệp Quốc), trong khi vi-rút cúm A H5N1 lây qua máu, mô tế bào..của gia cầm thì vi-rút cúm A H1N1 chỉ lây qua đường hô hấp.

     Hội chứng cúm được xác định là một bệnh “hệ thống” với: sốt, ho, đau đầu, nhức mỏi cơ và rát họng. Cúm là một bệnh lây nhiễm đường hô hấp, ước tính hằng năm gây bệnh từ 5 đến 20% tổng số dân. Vào cao điểm dịch cúm thì cũng chỉ 70% số ca bệnh là do vi-rút cúm, 30% còn lại là do các vi-rút “đường hô hấp” khác gây ra.

     Trong mùa dịch cúm hiện nay, khi nguy cơ lan tràn của vi-rút cúm A H1N1 rất lớn, đã có khá nhiều xét nghiệm nhanh như: Directigen Flu A, Directigen Flu A+B, QuickVue, Flu OIA, Zstat…được đem ra sử dụng. Nhờ các xét nghiệm nhanh ELISA, kể cả xét nghiệm sắc ký miễn dịch 3M Rapid Detection Flu A+B hiện đại, chúng ta đã nhanh chóng biết được bệnh nhân có bị nhiễm vi-rút cúm A hoặc B hay không, nhưng tuyệt nhiên không thể định danh “tiểu thể” (subtype) của vi-rút; cũng cần nhớ rằng vi-rút cúm A H1N1 chỉ là một dạng duy nhất trong cả trăm loại vi-rút cúm A.

    Trong y học mỗi xét nghiệm đều có hai chỉ tiêu để đánh giá đó là độ nhạy (Se) và độ đặc hiệu (Sp). Thường người ta dùng xét nghiệm có độ nhạy cao để “sàng lọc” bước đầu, sau đó dùng xét nghiệm có độ đặc hiệu lớn để “xác định” chẩn đoán; lấy ví dụ trong chẩn đoán AIDS, chúng ta dùng xét nghiệm nhanh Determine để sàng lọc, sau đó phải dùng xét nghiệm Western Blott để xác định chuẩn xác “có hay không có” HIV.

    Ở Âu Mỹ trong mùa cúm, những người bệnh nhân có xét nghiệm cúm dương tính thầy thuốc có thể “có chứng cớ” (evidence based) để yên tâm cho những thuốc kháng vi-rút và không cần cho thuốc kháng sinh chống vi khuẩn thông thường; vì việc dùng thuốc chống vi-rút sớm, ngay trong 48 giờ đầu, sẽ cho kết quả điều trị khả quan hơn nhiều so với điều trị muộn.

    Ở nước ta hiện nay khi đã có đến 59/63 địa phương xác định có cúm A H1N1, dù không thiếu sinh phẩm để xét nghiệm cúm A H1N1 (xét nghiệm RT-PCR), chúng ta chỉ cần tập trung làm xét nghiệm PCR để xác định ở 4 tỉnh thành còn lại, không cần làm đại trà như trước đây. Thống kê cho thấy trong những ca nghi ngờ cúm A H1N1 vừa qua, đã có đến 70% xét nghiệm PCR cho kết quả dương tính thật sự, cho nên tất cả bệnh nhân có “hội chứng cúm” trong vùng dịch tể đều có thể cho điều trị như là nhiễm cúm A H1N1. Vấn đề còn lại là nhờ vào các xét nghiệm nhanh vi-rút cúm A hoặc B, chúng ta sẽ xác định và loại trừ 30% âm tính (không nhiễm cúm) còn lại.      

    Tóm lại, tuy các xét nghiệm nhanh cúm A, B không giúp định danh, xác định cúm H1N1, nhưng trong mùa dịch chúng có ba vai trò rất quan trọng: một là giúp việc điều trị cúm sớm nên cho hiệu quả tốt, hai là giúp điều trị thuốc cúm hay kháng sinh hiệu quả hơn và ba là giúp dự phòng sự bột phát lây lan của đại dịch.

 

   

CHỌN BÁNH TRUNG THU CHO CON TRẺ

Tháng Mười 2, 2009

BÁNH TRUNG THU

 CHỌN BÁNH TRUNG THU CHẤT LƯỢNG?

Tết Trung thu, ngoài múa Lân và đèn hoa, bánh là món không thể thiếu trong mâm cỗ của con trẻ. Nhưng chất lượng và độ an toàn của bánh Trung thu lại là vấn đề gây “đau đầu”, lo lắng cho nhiều bậc phụ huynh hiện nay, khi trên thị trường đầy rẫy những vi phạm về an toàn, vệ sinh  thực phẩm (ATVSTP): nguyên liệu nhiễm “bẩn”, phụ gia nhiều, sản xuất không theo quy chuẩn và đặc biệt là quá nhiều bánh “quá đát” hoặc “sửa đát” xử dụng.

Cái bánh Trung thu nói chung thường có hai phần chính: bánh và nhân. Phần bánh với các nguyên liệu là bột, trứng, sữa, đường, dầu mỡ, muối… còn phần nhân thường gồm thịt, trứng, lạp xường, các loại quả khô, nhiều thứ mứt trái cây, rượu…Trong quá trình làm bánh nhà sản xuất thường cho thêm các phụ gia như bột nở, phẩm màu, chất tạo mùi hương…và cuối cùng thêm chất bảo quản để giữ bánh lâu hơn, tránh hư hỏng.

Để chọn được một cái bánh Trung thu ngon và chất lượng, bên cạnh cảm giác chủ quan hấp dẫn bên ngoài, cũng cần dựa trên hai tiêu chí để đánh giá: một là đủ các phẩm chất và thành phần dinh dưỡng theo quy định và hai là đạt mức độ an toàn và vệ sinh thực phẩm cho phép.

*Phẩm chất và thành phần dinh dưỡng của bánh liên hệ mật thiết với nguyên liệu đầu vào, tức là liên hệ với thương hiệu và phương tiện sản xuất.

*Mức độ an toàn và vệ sinh thực phẩm lại liên hệ chặt chẽ với quy trình sản xuất, bảo quản và hạn “đát” xử dụng.

Những bất cập hiện nay: (1) nhiều cơ sở đã xử dụng bột, thịt trứng kém phẩm chất, mỡ “thối”, mứt hỏng  để làm bánh, làm nhân. Với những nguyên liệu đầu vào “trời ơi” như thế này chắc chắn bánh sẽ kém chất lượng. Đã có nhiều cơ sở sản xuất quá dơ bẩn, không đủ điều kiện vệ sinh -sản xuất bên cạnh nhà vệ sinh, gần chuồng lợn…Không ít bánh mang mác giả lưu thong trên thị trường (2) chất phụ gia, chất bảo quản cũng là khâu nhiều cơ sở sản xuất vi phạm. Vì vấn đề ATVSTP, nhiều nước như Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Thụy Điển, Tây ban nha, Úc, New Zealand, Thái Lan…. đã công khai hạn chế nhập khẩu bánh Trung thu Trung Quốc do những sai phạm quá nồng độ chất phụ gia, nồng độ chất tẩy trắng, chất tạo ngọt (đường hóa học), chất bảo quản và cuối cùng (3) là hạn xử dụng bánh. Đây là sai phạm thường xảy ra nhất, quá nhiều bánh quá hạn được cạo sửa, thậm chí thay luôn nhãn “đát” xử dụng giả mạo.

Tóm lại, khi mua bánh Trung thu cần để ý hai điều cơ bản: một là cơ sở sản xuất bánh đủ mức tin cậy không? Đúng nhãn mác không hay bị giả mạo? và hai là hạn xử dụng còn gần, xa hay đã bị quá hạn?