Archive for Tháng Mười Hai, 2009

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Tháng Mười Hai 31, 2009

CẦU MONG NĂM MỚI 2010

2010 LỊCH TRẺ EM

Advertisements

ĐỀ KHÁNG INSULIN

Tháng Mười Hai 29, 2009

“ĐỀ KHÁNG INSULIN”

      CHÍCH INSULIN RẤT ĐÚNG !

   Câu hỏi :

       Tôi là một bệnh nhân đái tháo đường, đang khám và điều trị tại phòng khám Bảo hiểm Bệnh viện Đà Nẵng, vì bị bệnh nên tôi hay để ý đến những bài viết liên quan. Trên trang Quảng cáo của báo Nhân Dân trong bài viết “HỘ TẠNG ĐƯỜNG-BẢO VỆ TẠNG Ở BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG” Bác Sĩ Hoàng Cương có viết: “…Điều trị bằng insulin có thể không đạt được việc kiểm soát đường huyết như mong muốn ở những bệnh nhân đã có đề kháng với insulin…Bản thân insulin cũng bị nghi ngờ là một nguyên nhân của bệnh tim mạch…” (tôi gởi kèm bảng scan).

      Xin Tiến Sĩ vui lòng trả lời tôi các thắc mắc:

(1) Đề kháng insulin là gì? Vì sao khi đã có đề kháng với insulin thì việc dung insulin không kiểm soát đường huyết hiệu quả nữa?

(2) Vì sao insulin bị nghi ngờ gây ra bệnh tim mạch?

(3) Các thuốc điều trị đái tháo đường được cho là “chính thống” hiện nay?    

thuha_116@yahoo.com

 

Trả lời:

      Đái tháo đường là một bệnh lý mãn tính có rối loạn tăng đường máu, hậu quả do cơ thể chế tiết không đủ hóc môn insulin hoặc do xử dụng insulin không hiệu quả (đề kháng insulin). Bệnh được chẩn đoán chính là qua xét nghiệm đường máu tăng cao và không nhất thiết có đường xuất hiện trong nước tiểu hay không.

   1. Đề kháng insulin (insulin resistance) là tình trạng insulin bị giảm mất hiệu quả tác dụng kiểm soát đường máu so với bình thường. Bệnh nhân bị đề kháng insulin thì nồng độ insulin trong máu vẫn bình thường, thậm chí còn cao hơn mức trung bình, nhưng do đáp ứng của cá tế bào kém, do đó cơ thể bệnh nhân đái tháo đường thể 2 vẫn không kiểm soát đường máu ổn định, đường máu vẫn cao. Cần lưu ý tình trạng đề kháng insulin hoàn toàn không có nghĩa là cơ thể chống lại insulin như suy nghĩ thông thường, có lẽ tác giả bài báo đó đã suy diễn rằng “đề kháng” insulin là đồng nghĩa với “chống lại” insulin. Thật ra đây có lẽ là một ngộ nhận trong dịch thuật; đúng từ thống nhất của ngành nội tiết là “đề kháng insulin” chứ không phải là “đề kháng với insulin” như tác giả bài giới thiệu viết, để tránh hiểu nhầm cũng đã có bác sĩ nội tiết đề nghị dịch cụm từ “insulin resistance” thành “cản  insulin” hoặc “lờn insulin ”, cũng như trong vật lý người ta dịch “electric resistance” thành “điện trở” với ký hiệu quen thuộc là R.

      Có nhiều cách xác định tình trạng đề kháng insulin:

  * Đo tỉ số: Nồng độ insulin/Nồng độ glucose máu (I/G), bình thường tỉ số này có trị từ 0,3 đến 0,4 , nếu thấp hơn là có tình trạng “đề kháng insulin” và nếu cao hơn ta có tình trạng ngược lại là “cường insulin”.

  ** Các chỉ số khác như chỉ số HOMA, QUICKI…chính xác hơn nhiều, nhưng quá phức tạp nên thường chỉ được dùng trong nghiên cứu khoa học, hoặc những trường hợp bệnh lý đặc biệt, cần có chế độ chăm sóc riêng.    

      2. Insulin có gây ra bệnh tim mạch không?

   Bản chất insulin là một hóc-môn bình thường hiện hữu trong cơ thể con người chúng ta. Insulin được sinh tổng hợp và tiết ra từ các tế bào bê-ta của tuyến tụy tạng. Chúng  ta biết rằng đái tháo đường thể 1 là do tế bào bê ta hư hỏng không thể sinh tổng hợp insulin, còn đái tháo đường thể 2 xẩy ra trong hai tình huống: một là tế bào bê-ta của cơ thể không sinh tổng hợp đủ lượng insulin theo nhu cầu và hai là tình trạng đề kháng insulin khiến hóc-môn này không còn tác dụng hiệu quả, dù rằng nồng độ insulin trong máu đủ ngang bằng hay cao hơn mức bình thường. Trên lâm sàng thì bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch thật sự là bạn đồng hành với nhau. Cho nên có thể nói thật chính xác rằng tình trạng đề kháng insulin là nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch mới đúng, còn bản thân hormon insulin chẳng gây ra bệnh tim mạch.       

   3. Thuốc điều trị đái tháo đường hiện nay?

    Có nhiều loại xếp trong 4 nhóm:

  (1) Hóc-môn insulin, là thuốc điều trị đái tháo đường tốt nhất và hợp sinh học nhất, đặc biệt với công nghệ gien người ta đã sản xuất được đúng insulin người 100% nên rất an toàn; khó khăn còn lại của insulin liệu pháp là bảo quản khó và chích đau, đã có nhiều nghiên cứu insulin uống, insulin dán vào da, hít vào mũi hay xịt vào miệng… tiếc thay chưa ổn định để đưa ra sử dụng đại trà.

   (2) Nhóm các thuốc kích thích tế bào bê-ta tăng tiết thêm insulin, chủ yếu là các thuốc nhóm sulfonylurea (Clazic, Diamicron, Predian…) .  

   (3) Nhóm thuốc chống lại sự đề kháng insulin hay làm tăng nhạy cảm với insulin, đại diện là metformin (Diafase, Fordia, Glucophage, Siofor…) và

   (4) Nhóm thuốc làm giảm tiêu hóa, giảm hấp thu đường glucose từ ruột. Đây là các thuốc ức chế alpha glucosidase như: acarbose (Glucor, Glucobay), miglitol (Diastabol)

 Bốn loại thuốc này, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ chọn chỉ một loại hay phối hợp nhiều loại thuốc thích hợp cho từng bệnh nhân.

      Hiện nay, có một tình trạng cần cảnh báo là có quá nhiều quảng cáo, tiếp thị sai và quá mức về thực phẩm chức năng”. Cần lưu ý là mỗi căn bệnh thích hợp với một số thực phẩm nào đó, và chúng ta có thể dùng chúng để phối hợp, hỗ trợ điều tri bệnh. Bản thân các thực phẩm này không phải là thuốc, dứt khoát không thể dùng chữa bệnh thay thế thuốc chuyên khoa.

                                                                              

 

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 3

Tháng Mười Hai 22, 2009

               ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THỂ 3 !

   Câu hỏi

    Tôi là một bệnh nhân đái tháo đường, nhiều lần dự hội thảo và sinh hoạt câu lạc bộ “Đái tháo đường”. Qua các bài hướng dẫn, tôi được biết có các loại đái tháo đường thể 1, thể 2 , đái tháo đường thai nghén, đái tháo béo phì….

    Gần đây trên báo chí tôi nghe có một loại đái tháo đường mới do các bác sĩ Mỹ tím ra là đái tháo đường thể 3 ở não (tôi xin gởi bài báo kèm).Nghe nói đái tháo đường thể này thường đi kèm bệnh giảm trí nhớ Alzheimer.

    Kính nhờ trang sống khỏe của quý báo cho tôi biết: Bệnh đái tháo đường thể 3 là gì? Cách điều trị ra sao? Các thuốc đái tháo dduwwngf trước đây có dung được cho loại đái tháo đường thể 3 này hay không?    

 Trả lời:  

     Theo phân tích về từ gốc, đái tháo đường là phối hợp hai yếu tố: đái tháo là đái rất nhiều và đái đường là nước tiểu có đường. Việc định danh cho căn bệnh gặp nhiều tranh luận; nhưng cho đến hiện nay từ đái tháo đường được thống nhất trong danh pháp.

       Đái tháo đường là một bệnh lý mãn tính có rối loạn tăng đường máu, hậu quả do cơ thể chế tiết không đủ hóc môn insulin hoặc do xử dụng insulin không hiệu quả. Bệnh được chẩn đoán chính là qua xét nghiệm đường máu tăng cao và không nhất thiết có đường xuất hiện trong nước tiểu hay không.

     Theo danh pháp thống nhất, hầu hết trường hợp đái tháo đường thuộc trong ba nhóm lớn: đái tháo đường thể 1, đái tháo đường thể 2 và đái tháo đường thai nghén. Một số ít trường hợp thuộc các dạng hiếm gặp.

     * Đái tháo đường thể 1 còn gọi là đái tháo đường lệ thuộc insulin (Insulin -Dependent Diabete Mellitus- IDDM). Bệnh xảy ra khi các tế bào β của đảo Langerhans ở tuyến tụy bị hư hỏng nên không còn khả năng chế tiết hóc môn insulin được nữa. Vì đái tháo đường thể 1 xảy ra khi còn trẻ nên còn được gọi là đái tháo đường khởi phát ở tuổi trẻ (childhood-onset diabetes) hay đái tháo đường trẻ em (juvenile diabetes).

      * Đái tháo đường thể 2 còn gọi là đái tháo đường không lệ thuộc insulin (Non-Insulin-Dependent Diabete Mellitus- NIDDM). Bệnh xảy ra khi các tế bào β của đảo Langerhans ở tuyến tụy chỉ bị suy yếu không còn đủ khả năng chế tiết hóc môn insulin theo yêu cầu cơ thể. Vì đái tháo đường thể 2 thường xảy ra ở người lớn, người béo phì nên cũng được gọi là đái tháo đường khởi phát ở người lớn (adult-onset diabetes) hoặc đái tháo đường liên hệ béo phì  (obesity-related diabetes).

     * Đái tháo đường thai nghén như tên gọi là dạng đái tháo đường xuất hiện khi mang thai.

      “Đái tháo đường thể 3” để chỉ  những “bệnh danh” đái tháo đường còn chưa thống nhất gồm: đái tháo đường thể 1 kèm đề kháng insulin (đái tháo đường 1+2, double diabetes), đái tháo đường thể 2 cần insulin (insulin-required diabetes), đái tháo đường LADA , đái tháo đường thể 1.5., giảm chức năng tế bào do khiếm khuyết gen ( MODY1, MODY2, MODY3, ĐTĐ ty thể..), giảm hoạt tính insulin do khiếm khuyết gen, bệnh lý tụy ngoại tiết..

    Trở lại các câu hỏi cụ thể của bạn.

      (1) Đái tháo đường thể 3 như bạn đề cập cũng có thể gọi là đái tháo đường liên hệ bệnh Alzheimer .

      (2) Chiếu theo định nghĩa đã được các chuyên gia nội tiết thống nhất, nguồn gốc bệnh sinh của tất cả thể loại đái tháo đường đều là: hoặc do thiếu insulin hoặc do sử dụng insulin không hiệu quả. Do đó, điều trị bệnh điều trị bệnh đái tháo đường có liên hệ Alzheimer như bạn hỏi cũng là điều chỉnh hai vấn đề này.

      (3) Vì cơ chế bệnh sinh vẫn như nhau, nên có thể thuốc sử dụng các loại thuốc thông dụng hiện nay để điều trị đái tháo đường thể 3 như bạn đề cập.   

  

     

       

      

CHẢY MÁU CHẤT XÁM (tt 2)

Tháng Mười Hai 22, 2009

    Theo quan điểm xã hội hiện nay, “chảy máu chất xám” được cho là hiện tượng tiêu cực của các nước nghèo, nước đang phát triển…có người cường điệu nâng lên là “quốc nạn” cần phải có biện pháp ngăn chặn kịp thời!!!

     Với tư duy nặng tính “bao cấp”, cổ lỗ đó, gần đây Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đưa  Dự thảo quy chế quản lý lưu học sinh  ra để  lấy ý kiến.     

      Điều 9 trong Dự thảo quy chế này bị cho là “vô lý”, “duy ý chí” và “bất khả thi” vì: một là  quy định lưu học sinh sau khi thành tài chỉ được ở lại làm việc nước ngoài tối đa 3 năm, sau đó phải trở về “phục vụ” đất nước, bất kể là du học theo học bổng nhà nước, tài trợ tư nhân hay tự túc gia đình và hai là  buộc phải nộp thuế theo “quy định pháp luật” (vốn chưa có!) 

     Để biện minh cho quy chế này, nhiều quân sư “quạt mo” phán rằng đây là chiến lược để tạo “sàn thông tin dữ liệu” ( ngôn từ của Nguyễn Ngọc Hùng, nguyên Phó Vụ trưởng, Vụ Hợp tác quốc tế Bộ giáo dục & Đào tạo) và để  “bảo vệ quyền lợi của tổ quốc”, nơi sản sinh ra các hiền tài v.v…  Hình như người ta quên rằng (1) sau sinh thành phải được dưỡng dục con người mới thành tài,(2) thế giới chúng ta sống là “đại đồng”,(3) khoa học là tài sản chung của nhân loại…và sau nữa yêu nước không hẳn là phải làm việc quanh quẩn nội địa mới là đúng nghĩa. 

     Thu phục trí thức cần chân tình, tôn trọng…không nhất thiết luôn luôn phải là quyền lợi vật chất, lưu học sinh là thành phần ưu tú, sinh ra lớn lên trên quê nghèo, chắc chắn họ hiểu và không bao giờ đòi hỏi phải cho như ở ngoại quốc… Nhưng cần nhớ là rất khó khuất phục trí thức bằng cửa quyền, mệnh lệnh, chèn ép, bất công…   

      Những câu hỏi lớn: Ai đảm bảo cho những trí thức, khoa học gia trong các lãnh vực chuyên sâu, khi trở về Việt Nam, có thể tìm được cơ sở, việc làm thích hợp để thi thố tài năng, để thể hiện lòng yêu nước? So sánh giữa làm việc nước ngoài nhưng lòng “canh cánh” về Việt nam với bị “buộc” làm ngược lại? Có đáng lo lắm khi nhiều trí thức làm việc ở nước ngoài?…. 

 Xin post một bài viết, tôi rất tâm đắc để các bạn tham khảo  

     CHẢY MÁU CHẤT XÁM CÓ THẬT SỰ ĐÁNG SỢ ? 

        Mạnh Kim  Bauxite Việt Nam 2009-12-20 00:29:37    

    Rằng tài năng quốc gia sẽ cạn kiệt, rằng kinh tế quốc gia sẽ ảnh hưởng, rằng thật “uổng tiền” và công sức đào tạo trong nước để rồi cuối cùng nhân tài lại phụng sự quốc gia khác thay vì đóng góp cho tỉ lệ GDP nước nhà… Đó là những quan niệm phổ biến về hiện tượng chảy máu chất xám. Tuy nhiên, loạt nghiên cứu gần đây của những chuyên gia quốc tế cho thấy vấn đề cần được nhìn nhận lại, rằng chuyện chảy máu chất xám không quá nghiêm trọng như cố tình được thổi phồng… 

     Chảy máu chất xám – được nhiều hơn mất   

   Một trong những bài viết gần đây đề cập đến mặt tích cực hơn là tiêu cực của hiện tượng chảy máu chất xám là trên chuyên san ngoại giao Foreign Policy (22-10-2009) của Michael Clemens (Trung tâm phát triển toàn cầu, Giáo sư chính sách công Đại học Georgetown) và David McKenzie (kinh tế gia cao cấp thuộc Nhóm nghiên cứu phát triển của Ngân hàng Thế giới – WB). Ngay trong phần đầu bài viết, hai tác giả đã khẳng định, “việc cho phép di cư nguồn nhân lực có trình độ chẳng khác nào đồng ý với việc cho phép đánh cắp nguồn vốn con người từ nước nghèo của nước giàu” là một quan niệm sai lầm. Nó không đúng bởi nếu nói vậy, hẳn nước nghèo phải có sẵn một “kho” tài năng dồi dào khiến chuyện ra đi của họ làm ảnh hưởng đến kinh tế và hưng thịnh quốc gia. Thực tế lại trái ngược, khi tình trạng khan hiếm cũng như khủng hoảng thiếu hụt nguồn tài năng tại các nước đang phát triển là điều ai cũng có thể thấy. Hơn nữa, việc xuất khẩu nhân lực thật ra không ảnh hưởng mấy đến nguồn nhân lực nội địa.

      Có thể đơn cử trường hợp Philippines. Hiện là quốc gia có tỉ lệ y tá làm việc nước ngoài cao hơn bất kỳ quốc gia đang phát triển nào khác nhưng cùng lúc Philippines cũng có nhiều y tá tính trên đầu người làm việc trong nước họ nhiều thậm chí hơn cả Anh!

     Thứ nữa, cho rằng tình trạng nhân tài bị đánh cắp sẽ dẫn đến ý nghĩ rằng nếu họ làm việc trong nước thì tài năng họ đủ sức giúp họ kiếm sống. Trong thực tế, một y tá Zambia làm việc trong nước chỉ được hưởng mức lương khiêm tốn không đến 1.500 USD/năm (và lương bác sĩ không quá 5.500 USD). Với thu nhập khiêm tốn như vậy, liệu họ có thể đóng góp cho kinh tế nước nhà nhiều hơn so với việc họ làm việc nước ngoài và gửi về kiều hối?    Kế đến, quan niệm rằng thật lãng phí tiền của công sức, hao tổn ngân sách nhà nước, một cuộc đầu tư không có lãi, thậm chí lỗ to, khi nhân tài được đào tạo trong nước lại đi làm việc cho “người ngoài”, cũng là một ý nghĩ sai nốt.

      Cần biết, nhiều sinh viên du học đều đi bằng đường tài chính cá nhân hoặc được học bổng từ các đại học hoặc tổ chức nước ngoài. Khảo sát các thành viên gốc Phi thuộc Hiệp hội y khoa Hoa Kỳ cho thấy khoảng ½ trong số họ đều được đào tạo không phải ở quốc gia mình. Ngoài ra, cũng có nhiều nhà chuyên môn thật ra đã phục vụ (công ty, tổ chức) quốc gia mà họ (sẽ) đến trong thời gian dài, trước khi bắt đầu di cư. Khảo sát các Bác sĩ gốc Phi tại Mỹ và Canada được đào tạo trong nước họ cho thấy họ mất trung bình hơn 5 năm làm việc cho người nước ngoài trước thời điểm di cư. Điều này đồng nghĩa việc đầu tư đào tạo trong nước là có lãi, hiểu theo nghĩa có đóng góp ít nhiều cho kinh tế nước nhà. Trong thực tế, số tiền của các Bác sĩ gốc Phi làm việc tại Mỹ gửi về quê nhà họ nhiều hơn đáng kể so với khoản tiền mà quốc gia họ đã bỏ ra cho đầu tư đào tạo trước đó. Nói cách khác, đầu tư đào tạo cho nhân lực có tay nghề cao chỉ lãi chứ không lỗ…   

      Hai tác giả Michael Clemens và David McKenzie còn chỉ ra rằng quan niệm rằng nguồn nhân lực trình độ cao một khi đến sống và làm việc ở nước giàu sẽ không bao giờ quay trở lại quê nhà là một suy nghĩ thiếu xác đáng và lỗi thời. Có thể điều đó đúng với quá khứ nhưng thực tế hiện nay thì không. Nghiên cứu gần đây tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nơi có tỉ lệ chảy máu chất xám cao nhất toàn cầu, đã chứng minh rõ hơn.

      Lấy ví dụ Tonga, đảo quốc nhỏ với dân số vỏn vẹn 100.000, nơi dường như mà giới chuyên gia có trình độ hoặc công nhân tay nghề cao chẳng có lý do gì để trở lại phụng sự quê hương. Tuy nhiên, 1/3 trí thức Tonga du học sau khi tốt nghiệp đã quay trở về quê hương trước năm 35 tuổi.

      Và tại Papua New Guinea, ½ sinh viên du học phương Tây cũng trở về ở độ tuổi 30.

       Hẳn nhiều người có thể khá bất ngờ khi biết thêm, kể từ thập niên 1950 đến nay, thế giới có đến 46 nguyên thủ đương nhiệm cùng 165 cựu nguyên thủ từng được đào tạo ở Mỹ… Trong bài viết gần đây trên tờ Tech Crunch (17-10-2009), tác giả Vivek Wadhwa (Đại học Duke) cũng khẳng định khuynh hướng trên, khi cho biết ngày càng có nhiều sinh viên Ấn Độ và Trung Quốc đào tạo ở Mỹ bày tỏ ý nguyện trở về quê hương. Cuộc khảo sát 1.203 sinh viên Ấn và Trung Quốc nửa sau năm 2008 cho thấy tuổi trung bình của cựu sinh viên Ấn trở về quê nhà là 30 trong khi Trung Quốc là 33. Họ là những người được đào tạo bài bản: 51% có bằng Thạc sĩ và 41% có bằng Tiến sĩ với trường hợp Trung Quốc; và 66% có bằng Thạc sĩ và 12% có bằng Tiến sĩ với trường hợp Ấn Độ. Những bằng cấp đạt được trên hầu hết thuộc các ngành quản lý, kỹ thuật và khoa học. Đáng chú ý hơn nữa là không ít người trong số đó đã có thẻ xanh (được định cư hợp pháp tại Mỹ), với tỉ lệ 27% người Ấn và 34% người Hoa. Điều gì khiến họ chấp nhận từ bỏ “giấc mơ Mỹ”, nơi tượng trưng cho chính sách đãi ngộ nhân tài, có đầy đủ điều kiện nghiên cứu hiện đại nhất thế giới và đặc biệt mức lương hấp dẫn nhất hành tinh, để khăn gói trở về quê hương mà chỉ nội khoản thu nhập khiêm tốn cũng đã khiến người ta dễ nản lòng chùn chân?

       Thật bất ngờ, 84% người Hoa và 69% người Ấn cho biết đó là cơ hội nghề nghiệp! Tình hình đáng “báo động” (đối với nước Mỹ) đến mức Giáo sư Vivek Wadhwa viết rằng “đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ mà chúng ta đối mặt với tình cảnh chảy máu chất xám”. Hóa ra, chính Mỹ mới là nơi đang lo cho tình trạng đầu tư không có khả năng “tái hoàn vốn”, khi đào tạo cho sinh viên du học đến từ nước ngoài. Tất cả cho thấy, có thể nói thẳng ra rằng, một chính sách “cưỡng bức” sinh viên du học trở về quê nhà là điều thật sự không cần thiết! 

    Lợi ích kinh tế của nguồn chất xám di cư     

   Nguồn kiều hối từ thành phần nhân công di cư cũng không thể bỏ qua. Trong bài viết Dollars Without Borders trên chuyên san ngoại giao Foreign Affairs (16-10-2009), tác giả Dilip Ratha (chuyên gia kinh tế học cao cấp thuộc Nhóm đặc trách nghiên cứu kiều hối và di cư thuộc WB) cho biết, từ năm 2003-2008, nguồn kiều hối toàn cầu đã tăng gấp đôi, đạt gần 330 tỉ USD năm 2008. Với nhiều nước nghèo, kiều hối là nguồn thu nhập lớn nhất và ít biến động nhất. Chỉ riêng tại Lesotho, Moldova, Tajikistan và Tonga, kiều hối chiếm đến 1/3 thu nhập quốc gia! Kinh tế gia Lant Pritchett thuộc Đại học Harvard còn cho biết việc cho phép nhập cảnh thêm 3.000 công nhân Bangladesh vào Mỹ có thể tạo ra nguồn thu nhập cao hơn đóng góp hàng năm của Ngân hàng Grameen (vốn nổi tiếng thế giới với mô hình tín dụng nhỏ) đối với Bangladesh. Và bài viết ngày 1-11-2009 đề tựa Remittances and the Brain Drain Revisited của nhóm tác giả Albert Bollard (Đại học Stanford), David McKenzie (WB), Melanie Morten (Đại học Yale) và Hillel Rapoport (Đại học Bar-Ilan, Israel) còn cho biết thêm, công nhân tay nghề càng cao càng gửi tiền nhiều hơn về quê nhà so với công nhân tay nghề thấp. Điều này hẳn nhiên có ý nghĩa tích cực như thế nào đối với kinh tế nước nhà. Cụ thể, cộng đồng di dân trí thức gửi về quê nhà khoảng 874 USD/năm so với 650 USD đối với cộng đồng di dân có trình độ thấp.   

     Việc sinh viên Ấn Độ và Trung Quốc hăm hở trở về “ta tắm ao ta” không là hiện tượng nhất thời và chỉ mang tính xu hướng. Nó cho thấy chính sách chính phủ đóng vai trò rất quan trọng. Đó là việc đầu tư cơ sở vật chất hiện đại và “chế độ thảm đỏ” dành cho nguồn nhân lực trí thức từng du học. Người ta kêu gọi, chứ không bắt buộc, và người trở về cũng vui khi thấy họ có thể đóng góp, được đãi ngộ xứng đáng, khi chất xám bắt đầu được trân trọng. BusinessWeek (19-11-2009) cho biết một phòng lab mới toanh đang được lắp tại Đại học Thanh Hoa; và đó là nơi, theo Hiệu trưởng Thi Nhất Công (Shi Yigong; vốn là cựu Giáo sư Đại học Princeton, người tiên phong trong nghiên cứu cái chết của tế bào), là trung tâm nghiên cứu đẳng cấp thế giới chuyên “giải quyết những bí ẩn cơ bản của sinh học”. Giáo sư Thi là trường hợp cụ thể nhất của giới trí thức người Hoa trở về đóng góp cho quê hương. Năm 2008, Trung Quốc bắt đầu tung ra Chương trình Ngàn tài năng (kêu gọi kiều bào trí thức nước họ trở về) với gói trợ cấp đặc biệt gồm 1 triệu tệ (chừng 146.000 USD) giúp ổn định kinh tế trong thời gian đầu về nước, cùng mức lương hậu hĩnh và hỗ trợ tài chính cho thành lập phòng nghiên cứu (Giáo sư Mỹ gốc Hoa Jimmy Zhu thuộc Đại học Carnegie Mellon được mời về với mức lương đề nghị 140.000 USD/năm, cấp nhà ở vĩnh viễn và hơn 1 triệu USD để lập phòng lab!). Chính chính sách trên mới là điều khiến cộng đồng trí thức Trung Quốc ở nước ngoài muốn quay gót trở về.

     Cách đây một thập niên, chỉ 1/100 khoa học gia gốc Hoa hàng đầu làm việc tại Mỹ muốn về quê hương; bây giờ, người ta có thể “dụ” được cả những ngôi sao đang lên tại Harvard – nhận xét của Rao Yi, cựu Giáo sư khoa học thần kinh Đại học Northwestern, hiện là Hiệu trưởng Trường khoa học thuộc Viện đại học Bắc Kinh…

       Tương tự, trung tuần tháng 11-2009, Thủ tướng Malaysia Datuk Seri Najib Razak cũng tuyên bố lập một trung tâm kỹ thuật hóa sinh đẳng cấp thế giới để lôi kéo hiền tài từ hải ngoại. Chỉ khi tạo ra được những cái hồ lý tưởng như vậy, tự khắc những con cá trí thức sẽ trở về mà vẫy vùng. Muốn bắt (ép) cá (trở về) mà không tạo ra môi trường cho cá sống thì có khác gì vô hình trung tự tạo ra tâm lý phản kháng khiến cá càng muốn lánh xa ao nhà hơn? Nói cách khác, đó chỉ là một chính sách phản tác dụng, không phù hợp bối cảnh hội nhập toàn cầu và tất nhiên không được lòng người, vì nó trái với yếu tố căn bản của khái niệm “dụng nhân”!   

 

PHẢN BIỆN …PHẢN ĐỘNG (tt)

Tháng Mười Hai 21, 2009

 GS NGÔ BẢO CHÂU

GS. Ngô Bảo Châu:

“Tôi hơi bất ngờ”…

và “không lý giải được”

Quốc Phương     Bauxite Việt Nam 2009-12-21 00:30:11 

    Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Ngô Bảo Châu, người mà công trình toán học vừa được Tạp chí Time của Mỹ bình chọn là một trong 10 phát minh tiêu biểu của khoa học Thế giới năm 2009, cho BBC Việt ngữ hay, ông bất ngờ trước tin này. 

   “Quả thực là tôi bất ngờ. Tôi nghĩ ở đây có thể có một yếu tố ly kỳ nào đó khiến Time quan tâm chăng, vì bài toán này đã được ông Langlands đặt ra cách đây suốt 30 năm như những giả thuyết và người ta đã không chứng minh được nó”. 

   “Và bây giờ khi bổ đề cơ bản đã được chứng minh, thì người ta thở phào nhẹ nhõm”, Giáo sư Châu nói với BBC hôm 13 tháng 12 từ Hoa Kỳ.  Tôi hơi bất ngờ vì tuy công trình của tôi có một tầm quan trọng nhất định, nó hướng tới giới hàn lâm nhiều hơn là tới đại chúng. 

     Ngày 9/12/2009, Tạp chí Time đã xếp công trình chứng minh Bổ đề cơ bản chương trình Langlands (gọi tắt là Bổ đề cơ bản) bên cạnh một loạt các phát minh khoa học tiêu biểu có tầm vóc quốc tế và có ảnh hưởng tới lịch sử phát triển của nhân loại. 

     Một số sáng chế khác mà công trình “Bổ đề cơ bản” của Giáo sư Châu được xếp bên cạnh là: Ardi – thủy tổ của loài người, Giải mã gene di truyền ở người, Phát hiện nước trên mặt trăng, Hệ thống ngoại tuyến nguyên tử, Máy gia tốc hạt lớn v.v… “Tôi hơi bất ngờ vì tuy công trình của tôi có một tầm quan trọng nhất định, nó hướng tới giới hàn lâm nhiều hơn là tới đại chúng”, ông Châu, Giáo sư toán học tại Đại học Paris Sud 11 của Pháp chia sẻ. “Theo tôi hiểu, Tạp chí Time đã tham khảo ý kiến một số chuyên gia các ngành khác nhau về đâu là những bài toán, công trình khoa học nổi bật của năm, và một số người đã đưa công trình của tôi cho Time để họ biết”. 

‘Không lý giải được’  

    Mặc dù làm việc ở nước ngoài trong suốt nhiều năm qua, Giáo sư Châu, người từng được được mời làm Giáo sư tại Pháp khi mới 32 tuổi, vẫn theo dõi sát tình hình phát triển ở Việt Nam. Ông cho biết đã hơn nửa năm, bức thư của ông ngày 29/5 từ Mỹ, gửi Quốc hội Việt Nam, kiến nghị về dự án Bauxite vẫn chưa nhận được câu trả lời. “Tôi không lý giải được vì sao, nhưng tôi vẫn hy vọng đến một ngày nào đó, Quốc hội sẽ có câu trả lời chính thức cho bức thư mà tôi viết”. 

     Giáo sư Châu, người đang được mời làm việc tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton (Hoa Kỳ) cũng cho biết quan điểm của mình về việc giới trí thức đóng góp, phản biện về dự án khai khoáng của Chính phủ trong suốt năm nay. 

    Mọi người ai có điều kiện hoặc có một cách nào đó thuận lợi, nên có ý kiến của mình. Còn chuyện ý kiến đó có được tiếp thu hay không là một chuyện khác.  “Tôi không nghĩ tới chuyện vấn đề có thể đảo ngược được hay không. Nhưng chuyện phát biểu ý kiến, tôi nghĩ, mỗi người đều có quyền suy nghĩ độc lập”, đồng chủ nhân giải thưởng về toán học Clay 2004 nói. 

    Trong bức thư gửi Quốc hội Việt Nam, ông Châu đề cập tới chính sách mà ông gọi là “thực dân mới” của chính quyền Trung Quốc liên quan tới khai thác khoáng sản trên quy mô toàn cầu và cảnh báo về dự án Bauxite tại Tây Nguyên: “phần có hại thì cầm chắc, phần có lợi thì mong manh”.  Nhà toán học trẻ tuổi cho rằng mặc dù không phải chuyện gì cũng nên có ý kiến, “những chuyện như khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nếu làm sai thì không sửa được”. “Vì vậy, mọi người ai có điều kiện hoặc có một cách nào đó thuận lợi, nên có ý kiến của mình. Còn chuyện ý kiến đó có được tiếp thu hay không là một chuyện khác”. 

‘Không biết lắng nghe’ 

   Ứng viên được đề cử cho Giải thưởng Fields 2010, tương đương với “Nobel”, trong ngành toán học, cũng bình luận về hành vi, ứng xử của giới có trách nhiệm khi nhận được các đóng góp của giới trí thức.

    Ông nói: “Còn đối với những người đã được những người khác có ý kiến mà không tiếp thu, thì đấy là trách nhiệm của họ”. 

    Ông Châu cũng cho hay ông có theo dõi sự kiện Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS), một Viện nghiên cứu và phản biện chiến lược của tư nhân do Giáo sư Hoàng Tụy và Tiến sỹ khoa học Nguyễn Quang A đứng đầu, giải thể sau khi Viện này cho rằng một quyết định quản lý khoa học của Chính phủ ban hành năm nay là bất hợp lý. Nhà lãnh đạo vì lý do này, lý do kia bịt tai lại, không muốn lắng nghe mình, nhưng thực ra, nó vẫn sẽ thấm vào đâu đó. Nếu không thay đổi vào lúc này, thì sẽ thay đổi vào lúc khác. “Tôi có theo dõi tuy không chi tiết như giới nhà báo. Nhưng một xã hội mà không biết lắng nghe các ý kiến phản biện là một chuyện tương đối dở”. 

     “Bởi vì chỉ muốn nghe những ý kiến mà mình muốn nghe thì không bao giờ có thể làm đúng được”.  

     Tuy nhiên ông Ngô Bảo Châu tin rằng các ý kiến đóng góp tâm huyết và thẳng thắn của các trí thức trong và ngoài nước đối với các chính sách phát triển của đất nước vẫn có tác dụng nhất định: “Có thể trong một thời điểm nào đó, nhà lãnh đạo vì lý do này, lý do kia bịt tai lại, không muốn lắng nghe mình, nhưng thực ra, nó vẫn sẽ thấm vào đâu đó.

      Nếu không thay đổi vào lúc này, thì sẽ thay đổi vào lúc khác,” ông khẳng định. 

      Ông Ngô Bảo Châu, sinh năm 1972, là Giáo sư Đại học Paris 11, thành viên Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton, Hoa Kỳ, nhận giải thưởng của Viện Toán học Clay năm 2004, là người Việt Nam đầu tiên được mời làm Báo cáo viên toàn thể tại Đại hội toán học Thế giới, đồng thời là ứng viên được đề cử cho giải thưởng danh giá về toán học Fields 2010. 

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/12/091213_prof_ngo_bao_chau.shtml   

   

CHỤP MẠCH MÁU VÕNG MẠC HUỲNH QUANG

Tháng Mười Hai 15, 2009

 Thiết bị Chụp MMVMHQ

    Võng mạc bình thường

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG NHỚ CHỤP MẠCH VÕNG MẠC HUỲNH QUANG  

  TS.BS Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

     Trong các biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường, biến chứng mắt  cũng thường xảy ra. Có ba biến chứng lên mắt của bệnh đái tháo đường là đục thủy tinh thể (cườm), tăng nhãn áp (glaucoma) và bệnh lý võng mạc.

     Riêng bệnh lý võng mạc của đái tháo đường, người ta ghi nhận rằng, dù được điều trị thường xuyên, đúng phác đồ với nồng độ đường máu được kiểm soát ổn định; thì cũng vẫn có đến 60% số bệnh nhân bị biến chứng võng mạc mắt sau khi phát hiện bệnh khoảng 10 năm.

     Bệnh lý võng mạc mắt thường thể hiện dưới ba dạng: không tăng sinh, tiền tăng sinh và có tăng sinh. Tổn thương do các mạch máu võng mạc ở bệnh đái tháo đường có thể là: (1) mạch máu võng mạc bị thiếu oxy do nhiều nguyên nhân khác nhau nên có xu hướng bị nghẽn tắc, hậu quả cuối cùng là nguồn cung cấp ô-xy tại chỗ sẽ cạn kiệt (2) sự suy yếu của thành mạch máu sẽ tạo ra nhiều vị trí dãn phình mạch máu (aneuvrism) và (3) những mạch máu nhỏ ở võng mạc bị vỡ gây tổn thương võng mạc, tăng nhãn áp và có thể gây mù lòa. Nếu không được kiểm tra và chữa trị kịp thời thì các tổn thương mắt này rất khó hồi phục. Do đó, cả Tổ chức Y tế thế giới (WHO) lẫn Liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF) đều khuyến cáo bệnh nhân đái tháo đường cần được kiểm tra mắt định kỳ, để phát hiện và điều trị sớm các biến chứng võng mạc.

     Trong các thăm dò chẩn đoán, kỹ thuật Chụp mạch máu võng mạc huỳnh quang (CMMVMHQ) chiếm một vị trí rất quan trọng, cung cấp những thông tin về hệ tuần hoàn mạc máu võng mạc và tình trạng đáy mắt. Như tên gọi, thủ thuật CMMVMHQ này sẽ cho những hình ảnh mạch máu võng mạc rõ ràng, nhờ được phát sáng lên bởi một loại thuốc nhuộm huỳnh quang tên là fluorescein được bơm vào máu. Với những hình ảnh rõ nét và “sống động” này bác sĩ sẽ theo dõi và điều trị sớm các biến chứng ở võng mạc mắt -phần quan trong nhất của thị giác- của bệnh nhân đái tháo đường.

    Hiện nay, trước tình hình bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng; nhiều bệnh viện đa khoa cũng như chuyên khoa đều có trang bị máy và triển khai kỹ thuật CMMVMHQ. Có thể ví kỹ thuật này là một “quà tặng” để tầm soát bệnh võng mạc cho bệnh nhân đái tháo đường.

 

PHẢI TỰ TRÁCH MÌNH TRƯỚC

Tháng Mười Hai 13, 2009

TIÊN TRÁCH KỶ HẬU TRÁCH NHÂN

                              Trần Bá Thoại

      Đã có quá nhiều bất cập trong lãnh vực giáo dục Việt Nam: Nhà trường thu phí bất hợp pháp, thầy giáo đánh nhau, thầy hiếp trò, cô giáo “hành hạ” học sinh…ngược lại không ít trường hợp phụ huynh, thậm chí học sinh lại đi hành hung thầy cô giáo…  

    *** Thầy Hà Văn Thịnh Đại học Khoa học HUẾ  viết

    CHỐNG THAM NHŨNG CHO HỌC SINH: CHỈ CẦN GIÁO DỤC TÍNH TRUNG THỰC VÀ LÒNG NHÂN ÁI

         Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân vừa phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng chống tham nhũng (PCTN) vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng. Câu hỏi đặt ra là: Đề án có nói đến kinh nghiệm của Trung Quốc, Thuỵ Điển, Singapore…, nhưng có thực là với 4-5 tiết học (ở THPT, đại học) là đủ để xác lập được “văn hóa chống tham nhũng” hay không? Và, liệu có trở thành phong trào (học cho vui) và tốn tiền (nghiên cứu triển khai Đề án), mất thì giờ (dạy và học), một khi chúng ta cứ tiếp tục cưỡi ngựa xem hoa trong lĩnh vực giáo dục đạo đức?

1. Cái nền móng thứ nhất của “văn hóa” tham nhũng chính là thế hệ cán bộ nhiều mất mát trong chiến tranh và thế hệ cán bộ được đào tạo vội vàng, trao chức quyền rất vội vàng sau chiến tranh. Đấy là những người đã từng có cống hiến rất nhiều cho dân tộc, đất nước nhưng chưa được hưởng thụ; chưa được giáo dục đầy đủ về “văn hóa quyền lực”; nói tóm lại là thiếu hẳn cái tâm, cái tầm, cái dũng khí của một người được giao trọng trách. Những thế hệ cán bộ đó đa số xuất thân từ nông dân – như Lê Nin nói, luôn có tính hai mặt: Là người lao động khi sản xuất lúa mì nhưng là kẻ tư hữu tham lam, khi bán lúa mì. Nếu truy nguyên thì có thể thấy rõ là cán bộ – “nông dân một nửa, công nhân một nửa” khi có quyền lực thì không còn “sản xuất” ra lúa mì nữa mà chỉ “bán” và thu lợi một cách dễ dàng! Không phải ngẫu nhiên mà các vụ tham nhũng ở ta, hơn 80% liên quan đến đất đai – cái nền đầy tính lãng mạn và thực dụng của tư tưởng tiểu nông.

2. Cái nền móng thứ hai là cơ chế quản lý quan liêu, cồng kềnh, lãng phí, đầy hủ tục hành chính và vô số kẽ hở mà cơ chế đó đẻ ra. Thêm vào đấy, các chế tài trừng phạt giơ cao đánh khẽ theo kiểu tham nhũng to bằng con voi nhưng xử lý to bằng con kiến (Vietnamnet, 5.12.2009) đã “góp phần” khuyến khích, tạo điều kiện cho tham nhũng lộng hành. Một khi cán bộ nhiều như thế (cấp phó có 5,7, thậm chí 13 vị) thì sự chồng chéo, ăn không ngồi rồi để nhàn cư vi bất thiện là lẽ đương nhiên. Câu hỏi và câu trả lời đều có: Không phải tự nhiên mà đua nhau học đại học, kiếm bằng cấp cho bằng được rồi đua nhau vào làm ở các cơ quan nhà nước – những nơi ít cần đến tài năng, ít cần sức lao động nhưng nhiều bổng lộc, được ăn trên ngồi trốc; được thỏa mãn lòng tham mà chẳng phải lo gì đến sự trừng phạt. Tại sao không học nước người ở chỗ là họ chỉ cần một hai cấp phó thôi là lãnh đạo được đất nước, địa phương – thậm chí lãnh đạo được cả thế giới? Tham nhũng ở ta đã và đang trở thành một căn bệnh trầm kha nhưng không hề có một ai bị kỷ luật thì làm sao chống tham nhũng? Mặt khác, nếu cứ đi làm, chẳng hạn như công an, lên đến Đại úy rồi mới đi học đại học VHVL để được đeo lon Thiếu tá, thì chuyện cán bộ kém năng lực; bị lợi dụng và tha hồ lạm dụng quyền lực là chuyện đương nhiên.

3. Một câu hỏi cần phải ngẫm kỹ là: Tại sao ở các nước có đức tin tôn giáo bền vững thì tham nhũng rất ít? Chẳng hạn, đạo Hồi coi ăn cắp (tham nhũng) là một trọng tội; còn Công giáo thì một trong 10 điều răn là “chớ tham của người. Chính nhờ cái đức tin (nguyên tắc) bền vững ấy mà xã hội ít hẳn đi những vấn nạn. Đức tin tôn giáo đối với người có đạo cũng như đạo đức của những người không thờ phụng một tôn giáo nào về nguyên tắc là đều dựa trên nền tảng trung thực, nhân ái. Nếu học sinh, ngay từ khi được học buổi học đầu tiên được giáo dục một cách đầy đủ rằng sự trung thực là yếu tố quan trọng nhất của đạo đức, thiếu nó là một con người khiếm khuyết thiếu tự trọng thì chắc chắn giá trị sẽ lớn hơn nhiều so với 4-5 tiết học PCTN. Một khi tính trung thực được coi là kim chỉ nam của cuộc đời, lòng nhân ái là mục đích sống có ích, tốt đẹp nhất thì ăn cắp của người khác, dù dưới bất kỳ hình thức nào cũng là tội lỗi không thể tha thứ, thì làm sao có cái gọi là “văn hóa” tham nhũng? Thông cảm với nỗi đau của người khác, không giành phần bánh nhiều hơn của người khác là đạo đức tối thiểu thì tham nhũng nhất định là kẻ thù của con người.

Mặt khác, xét về tính khoa học, mấy tiết học có đủ để dạy cho học sinh, sinh viên về bản chất, cội nguồn, mánh khóe, các thủ đoạn thường dùng, các cách thức để che đậy, để chạy chức, chạy án… hay không? Câu trả lời là không. Tiếp đó, tại sao chúng ta không nghĩ rằng gieo vào đầu óc trong trắng của học sinh các thủ đoạn tồi tệ về nhân cách của những kẻ tham nhũng sẽ dẫn đến sự phản tác dụng – thậm chí, làm cho các em hư hỏng nhanh hơn, học cái xấu cái ác nhiều hơn – chữa mù thành đui gấp gáp hơn? Câu trả lời là có. Chắc chắn. Nếu không có dẫn chứng thì bài học không sinh động. Còn đưa ra nhiều dẫn chứng là chúng ta đang làm vẩn đục hóa những tâm hồn thánh thiện. Không thể dạy cho trẻ các thủ đoạn tàn ác khi chúng chưa đủ năm tháng và hiểu biết để nhận thức đúng về tội ác ấy. Câu hỏi cuối cùng: Xin dẫn ra đây 2 câu chuyện có thật qua ngày 20.11 vừa rồi. Một, có người bạn cũng dạy học ở Vinh gọi điện cho tôi, hỏi rằng 20.11 được “mấy chục”? Tôi nghe mà đau mà xót bởi đó dường như là tình trạng phổ biến thời nay. Hai, lúc ba mẹ ngồi hỏi nhau xem thử tìm món quà nào tặng cô giáo thì con bé Cún 6 tuổi chen ngang: “Cô con thích tiền”. Hai ví dụ trên nói lên rằng sự tha hóa của một bộ phận không nhỏ các thầy giáo, cô giáo hiện nay là sự thực 100%. Đừng huyễn hoặc bằng cách tự nhắm mắt, bưng tai trước sự thực ấy. Hãy trả lương sao cho giáo viên đủ sống, có tích lũy để người thầy trở thành tấm gương đầu tiên không tham nhũng trong con mắt của bọn trẻ. Giá trị của sự trong sáng, đáng kính ấy sẽ lớn hơn rất nhiều mấy tiết học PCTN. Trong suy nghĩ cá nhân, tôi cho rằng sự tha hóa về đạo đức của người thầy (bằng thật, kiến thức giả; trí thức mà luôn phải vật lộn, day dứt với đồng tiền) là nguy cơ lớn nhất – còn lớn hơn cả nguy cơ về cơ chế quản lý, trong công cuộc PCTN.

Lòng nhân áisự trung thực là hai điều thiếu một cách trầm trọng của xã hội ta hiện nay. Câu ngạn ngữ đói cho sạch rách cho thơm đã và đang trở thành tiếng cười mai mỉa. Tại sao chúng ta không tìm cách cứu dân tộc bằng cách tạo nên một và nhiều thế hệ mới có đủ tính trung thực và lòng nhân ái mà lại làm đen hóa, vẩn đục hóa thế hệ trẻ bằng cách “dạy” cho chúng các thủ đoạn để kiếm tiền? Nếu không cân nhắc kỹ, tính toán các nội dung cần và đủ, thì việc dạy PCTN là vẽ thêm đường cho hươu chạy!

     ***GSTS Toán học Nguyễn Thu đã viết

         “,,,, nền giáo dục của chúng ta phải đào tạo cho xã hội người công dân tử tế có đầu óc chứ không phải những rô-bốt mất dạy”   

    ****Người viết xin lưu ý mấy vấn đề: 

      1.  Con người là sản phẩm xã hội. Khi những lời cám ơn, lời xin lỗi…..trở thành điều bất thường, khách sáo…cũng là lúc đạo đức xã hội “có vấn đề”.

      2. Chúng ta đang áp đặt giới trẻ vào các mô hình, các định nghĩa vốn tự bản thân chúng ta còn loay hoay tìm tiêu chí đánh giá: Học tập thế nào là đúng? Đạo đức tốt ra làm sao?  Làm thế nào để thể hiện lòng yêu nước?..v.v.và v.v…

      3. Chưa có mô hình “chuẩn”, những gương tốt việc tốt để học sinh có thể theo đó noi theo, học tập…

          “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”.  Hôm nay con em chúng ta kém cõi , chúng ta cũng phải tự xem lại rằng mình đã có hướng dẫn, dạy dỗ chúng bài bản chưa; chúng ta đã có đủ gương mẫu chưa.

CHỈ DẤU UNG THƯ (TUMOUR MARKERS)

Tháng Mười Hai 11, 2009

HIỂU ĐÚNG CÁC “CHỈ DẤU” UNG THƯ!

              Trần Bá Thoại  

        Để xác định chẩn đoán, mỗi căn bệnh đòi hỏi một số xét nghiệm cần thiết, trong đó xét nghiệm chủ chốt được gọi là xét nghiệm vàng hay tiêu chuẩn vàng (gold standard). Ví dụ: Định lượng glucose máu để xác định đái tháo đường, đo nồng độ axít uric máu để xác định bệnh gút, chụp phim X quang để xác định gãy xương…Với các u bướu, ung thư cũng cần những xét nghiệm tương tự, đó là những chất do khối u sản sinh ra, chuyên môn gọi là các “chỉ dấu ung thư”.

       Chỉ dấu ung thư (tumour markers) thường là các phân tử kích thước lớn -đa số là các phân tử chất đạm có gắn thêm thành phần chất đường hoặc chất béo- các chất này được tổng hợp bởi các tế bào ung thư và hiện diện trong máu hoặc trong các chất dịch cơ thể với một nồng độ tỷ lệ thuận với sự phát triển của khối ung thư.

      Một chỉ dấu lý tưởng để chẩn đoán bệnh ung bướu cần có hai đặc điểm: một là chất chỉ dấu được chế tiết vào máu với một nồng độ có thể định lượng được khi khối u chuyển sang “ác tính” và hai là việc phát hiện chất chỉ dấu này cho phép thầy thuốc định vị được khối u sinh ra nó nằm ở đâu.

      Trong thực tế không có chỉ dấu ung thư nào đạt được hai chỉ tiêu lý tưởng vì: (1) chỉ dấu phải có độ đặc hiệu đến 100% và sai số dương giả là 0% , tức là chỉ cho kết quả dương khi phát hiện khi có ung thư  và (2) chỉ dấu phải có độ nhạy đến 100% và sai số âm giả  là 0%, tức là có thể phát hiện rất sớm trong giai đoạn đầu của ung thư và không hề bỏ sót.

      Vì không có chất chỉ dấu ung thư “lý tưởng” như đã nêu trên, chúng ta cũng cần hiểu “ý nghĩa xử dụng” trong y khoa của các chỉ dấu ung thư:

   *1. Xét nghiệm định lượng chất chỉ dấu không thể dùng quá “đơn giản”, quá dễ dàng để sàng lọc và xác định chẩn đoán bệnh, bệnh nhân không thể  tự bỏ tiền đi làm xét nghiệm để biết bệnh được, mà cần phải có bác sĩ kinh nghiệm đánh giá, phối hợp độ nhạy, độ đặc hiệu cũng như các yếu tố lâm sàng khác mới có thể kết luận toàn diện và thích hợp. Ví dụ: Chúng ta không thể đơn thuần đi làm xét nghiệm AFP để kết luận có ung thư gan nguyên phát (HCC) hay không, mà cần phải có các xét nghiêm, các thăm dò chẩn đoán khác như Chức năng gan, Siêu âm bụng, chụp CT scan hoặc MRI….   

    *2.  Chất chỉ dấu ung thư rất cần thiết cho bác sĩ điều trị để đánh giá đúng tình trạng bệnh, diễn tiến và hiệu quả điều trị cũng như khả năng tái phát , ngõ hầu có phương cách xử trí thích hợp cho bệnh nhân ung thư.

     Vài chỉ dấu ung thư quan trọng hay sử dụng hiện nay:

  1. αFP (AFP, Alpha Feto Protein): là một glycoprotein; sản sinh từ túi phôi (york sac) và gan của phôi thai; dùng để theo dõi thai kỳ, ung thư gan nguyên phát và u tế bào mầm.

  2. CEA (Carcino-Embrionic Antigen): là một glycoprotein; sản sinh từ niêm mạc ruột, phôi và thai; dùng để theo dõi ung thư dạ dày, ruột non, ruột già, ung thư vú và ung thư phế quản.

  3. PSA  (Prostate Specific Antigen): là một glycoprotein; sản sinh từ các tế bào ống tuyến của tiền liệt tuyến; dùng để chẩn đoán và theo dõi ung thư tiền liệt tuyến.

  4. CA 15-3 (Cancer Antigen 15-3): là một glycoprotein; sản sinh từ tế bào ung thư vú và vài loại tế bào biểu mô; dùng để theo dõi điều trị ung thư vú.

  5. CA 125 ( Cancer Antigen 125): là một kháng thể glycoprotein; sản sinh từ ung thư buồng trứng, tế bào biểu mô bình thường của thai và biểu mô niêm mạc đường hô hấp của người lớn; dùng để theo dõi điều trị ung thư buồng trứng. 

  6. HCG (Human Chorionic Gonadotropin): là một hóc-môn glycoprotein; sản sinh từ các cộng bào nuôi của nhau thai, tế bào mầm của khối u; dùng để chẩn đoán u tế bào mầm, u tế bào nuôi, thai trứng.

 7. NSE ( Neuron Specific Enolase); là enzyme enolase; sản sinh bởi các tế bào thần kinh (neurons) các tể bào thần kinh-nội tiết, hồng huyết cầu, tiểu cầu; dùng để chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC), ung thư nguyên bào thần kinh, u tủy thượng thận (pheochromocytoma)..

 

 

HỘI NGHỊ THẾ GIỚI VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Tháng Mười Hai 7, 2009

 Băng tan ở Nam Cực

 Triều cường TP HCM

HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU!

               Trần Bá Thoại

     Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu (COP 15) từ hôm nay 07/12 cho đến 18/12/2009 ở Copenhagen (Đan Mạch) quy tụ những vị nguyên thủ quốc gia, giới lãnh đạo của các tổ chức quốc tế, nhiều chuyên gia cao cấp và các nhà hoạt động về môi trường, dự kiến có đến 17.000 đại biểu về họp.

    Hội nghị diễn ra trong bối cảnh khí hậu toàn cầu đang diễn ra theo xu hướng xấu, mức báo động: (1) nhiệt độ trái đất tăng thêm 0,74 0 C từ 1996 đến 2005 và còn tăng hơn trong thời gian tới, (2) bão tố, lũ lụt ngày càng phức tạp, hung dữ hơn, (3) mực nước biển dâng cao với nạn triều cường đe dọa nhiều nơi.

   Cần lưu ý là ba yếu tố xấu này lại có liên quan mật thiết với nhau: Việc phá rừng lấy gỗ, lấy đất canh tác, xây nhà máy thủy điện không chỉ ảnh hưởng lên lũ lụt, mà còn làm tăng hiệu ứng nhà kính, phá vỡ tầng ô-zôn, lý do là lá cây rừng trong quá trình quang hợp đã sử dụng rất nhiều các-bô-níc để tổng hợp ra chất hữu cơ, nên đã giúp quả đất giảm đi rất nhiều chất “đầu sổ” gây hiệu ứng nhà kính. Các nhà khoa học và nhà hoạt động môi trường vẫn ví rừng là “lá phổi của hành tinh” chúng ta. Khi nhiệt độ trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính, khối băng khổng lồ ở hai cực quả đất sẽ tan chảy ra, nước biển dâng lên và triều cường ngày càng lớn.

    Nhận thức mối đe dọa môi trường như thế, ngày nay nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu lo lắng, sửa chữa những “tàn phá” môi trường trước đây: Trung Quốc dự tính sẽ chi thêm 300 tỷ USD trong 10 năm tới để hạn chế khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Thái Lan gần đây cũng đã cho thấy xu hướng “ưu tiên” giữ môi trường hơn là chạy theo lợi nhuận kinh tế, qua việc Tòa án hành chính tối cao ra phán quyết ngưng xây dựng 65/76 dự án ở khu công nghiệp Map Ta Phut. Ở Việt Nam những năm gần đây, với lý do “đất nước phát triển rất cần điện và thiếu điện”, nhiều nhà máy thủy điện được thi công ào ào như “nấm mọc sau mưa”. Hậu quả là rừng già, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh …nếu cần người ta cũng triệt hạ tuốt để ưu tiên làm thủy điện. ThS.KS lâm nghiệp Lương Vĩnh Linh, GĐ Vườn Quốc gia Cư Yang Sin than thở: “Nhiều kiểm lâm viên bỗng ngộ ra rằng họ chỉ có thể ngăn chặn dân nghèo chặt phá vài héc ta rừng để kiếm sống; chứ không cách gì ngăn nổi đại gia phá hàng trăm héc ta rừng để làm giàu bằng các dự án thủy điện”. Nhưng rồi những trận lũ lụt khủng khiếp sau hai cơn bão số 9 và số 11 đã khiến cho chính quyền địa phương “sáng mắt”, nhận ra rằng “ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”, và rồi tuy cũng đã muộn, nhưng cũng đã có nhà máy thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đã bị rút phép thi công.

     Dù đã đạt được hai Nghị định thư Rio de Janeiro 1992 và Nghị định thư Kyoto 1997;  nhưng những cam kết này không có “thực chất” vì các nước có lượng khí thải nhiều nhất như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Brasil..lại có vẻ lảng tránh và chẳng đưa ra một cam kết cụ thể nào về lộ trình cắt giảm khí thải.

     Hy vọng trong hội nghị thượng đỉnh này, các nước giàu, nước lớn -vốn là những nước “phun ra” nhiều khí thải nhất trên thế giới cùng ngồi lại để bàn lại:  phát triển kinh tế xã hội nhưng phải “sạch và xanh”.        

THÔNG TIN VÀ PHÁT TRIỂN

Tháng Mười Hai 5, 2009

             PHÁT TRIỂN PHẢI CÓ THÔNG TIN

    Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ, họp một năm hai lần, vừa diễn ra hai ngày 03-04/ 12/ 2009 tại Hà Nội. Ý kiến nổi cộm trong hội nghị này là chúng ta cần tăng cường Tự do thông tin để  hỗ trợ phát triển.

   Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế và phát triển đòi hỏi một môi trường cởi mở và minh bạch cho mọi đối tượng tham gia, cả Việt Nam và quốc tế”.

     Đại sứ Thụy Điển Rolf Bergman: “Chúng tôi khuyến cáo Việt Nam xóa bỏ mọi hạn chế đối với internet”, ông cũng mạnh mẽ yêu cầu: “Việt Nam phải cho phép báo chí được theo dõi chính quyền. Các nhà nghiên cứu, nhà báo và luật sư phải được khuyến khích lên tiếng để có thể đóng góp cho tương lai đất nước”.

     Đại sứ Canada Deanna Horton, đã thay mặt cho Na Uy, New Zealand và Thụy Sĩ  khuyến cáo: Chính phủ Việt Nam cần cân nhắc để đảm bảo rằng các quy định và hiệp định mới về vai trò của các nhóm dân sự và báo chí sẽ khuyến khích người dân tham gia mạnh mẽ hơn vào tiến trình phát triển.

    Tôi vẫn thường đùa với các em sinh viên trẻ: “ Ông trời rất có lý khi tạo ra con người có đến hai mắt, hai tai, hai chân, hai tay..để thấy nhiều, nghe đủ hướng, đi đủ nơi, tìm đủ thứ..nhưng chỉ có một cái miệng để nói, “phán” chừng mực và ăn vừa phải”.

     Thiếu thông tin chúng ta sẽ là “những thằng mù sờ voi” trong chuyện ngụ ngôn nghe từ hồi tấm bé. Ngược lại, trong cuộc sống, một vấn đề nếu đã được nghiên cứu kỹ càng, nghe phản biện nghiêm túc…tức đã có đầy đủ thông tin, thường sẽ được giải quyết thành công.

    Trong lịch sử, vào thế kỷ 19 trong khi Minh Trị Thiên Hoàng làm một cuộc canh tân “vô tiền khoáng hậu”, đưa đất nước Nhật Bản vượt lên, thì vào cùng thời đó ở Việt Nam chúng ta các vua quan triều Nguyễn với chính sách “bế quan tỏa cảng” đã kìm hãm thông tin, đưa nước ta thụt lùi so với bè bạn, vì kiến thức -sự học- “…như thuyền đi ngược nước, không tiến ắt sẽ lùi” (Vương Dương Minh).

   Đành rằng thông tin là đa giá: đúng có, sai có và cả “vô thưởng vô phạt”. Về phương diện quản lý, nhà nước cần phải có kiểm soát, sàng lọc và định hướng chung. Thói quen “quản chưa được, cấm cho khỏe”, là thói tiêu cực của những “chức sắc” bất tài.