ĐKG LÊ THÀNH NHƠN: NGƯỜI NẶNG TÌNH VỚI HUẾ

 nhơn.jpg
 Lê Thành Nhơn sinh 1940 tại Thủ Dầu Một, Bình Dương. Học xong trung học, ông thi đậu vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn và tốt nghiệp thủ khoa. Năm 1966 ông nhập ngũ Quân đội Việt Nam Cộng hòa được bốn năm thì giải ngũ với cấp thiếu úy sau khi bị thương.
  Trong đời sống dân sự ông làm giáo sư trường Mỹ nghệ Thực hành Bình Dương rồi trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn cùng trường Mỹ thuật Huế và Đại học Cộng đồng Duyên Hải (NhaTrang). Trong thời gian này ông cho ra mắt những tác phẩm như tượng Quan Thế Âm tại chùa Liễu Quán, Huế; tượng Phật Thích Ca cao 4,5 m tại chùa Huệ Nghiêm, Phú Lâm; tượng Lê Văn Đệ ở sân trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn; và tượng Phan Thanh Giản cao 3 m. Bức tượng sau cùng này sau năm 1975 đã bị phá hủy. Tượng Lê Văn Đệ cũng không còn nữa.
   Năm 1975 ông rời Việt Nam tỵ nạn sang Úc và định cư tại Melbourne. Ông tiếp tục sáng tác và được mời giảng dạy khoa kiến trúc tại trường RMIT University of Melbourne. Một số tác phẩm hội họa và điêu khắc của ông nay được trưng bày ở Đại học Monash tại Melbourne, Viện Bảo tàng Quốc gia Úc tại Canberra và Viện Bảo tàng Di dân tiểu bang Victoria. Nổi tiếng nhất trong những điêu khắc của ông là tượng chân dung nhà chí sĩ Phan Bội Châu bằng đồng cao 3,5 m ở Huế.
  Lê Thành Nhơn qua đời lúc 16 giờ 30 chiều thứ hai 4-11-2002, Nhâm Ngọ, trong bệnh viện Royal Melbourne vì bệnh ung thư gan, hưởng thọ 62 tuổi
nhon-phan-boi-chau

 

NHÀ ĐIÊU KHẮC LÊ THÀNH NHƠN: NGƯỜI NẶNG TÌNH VỚI HUẾ

Vương Tâm

(Tổ Quốc)- Có thể nói Huế là thánh địa của những tượng đài và thành quách cùng những lăng tẩm độc đáo qua các triều vua nhà Nguyễn. Nhưng thật bất ngờ, các bức tượng của nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn nổi bật, tạo nên những điểm ngời sáng, đậm chất Huế, sâu lắng như những kỳ quan lâu đời của thành phố cổ kính. Đó là ba tác phẩm điêu khắc chân dung “Phan Bội Châu”, “Cô gái Việt Nam” và “Bồ tát Quán Thế Âm”, đều được bày bên đường Lê Lợi, từ đầu cầu Trường Tiền, trên bờ sông Hương.

Nỗi niềm Huế trong tâm hồn Lê Thành Nhơn

Thực ra họa sĩ Lê Thành Nhơn, sinh năm 1940 ở Bình Dương, chỉ sống và dậy học ở Huế có 5 năm trời (1969-1974), nhưng ông đã bị ám ảnh suốt cuộc đời mình vì mảnh đất thấm đẫm lịch sử huy hoàng của một triều đại và con sông Hương dịu dàng, ngọt ngào những điệu hò ngân vang bao đời nay. Nói đến Huế là nói đến đất Phật và con người thiền định cùng với thân phận dịu dàng trong kinh sách. Tiếng chuông, tiếng khánh và văn hóa nhà vườn đã làm người họa sĩ trẻ Lê Thành Nhơn ngày đó hình thành một tư chất nghệ sĩ lãng mạn nhưng lại giầu âm hưởng phật giáo. Thâm trầm và đầy nội lực với những cảm xúc bất ngờ.

Chính vì lẽ đó trong vài năm ở Huế, nhà điêu khắc trẻ đã sống hết lòng với người dân nơi đây và đã để lại hai tác phẩm để đời. Nếu tượng “Bồ tát Quán Thế Âm”, hiện đang bày ở Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán trên đường Lê Lợi, là một sự trầm luân với đất Huế; thì bức tượng chân dung “Phan Bội Châu” là một sự dâng hiến đầy bi tráng của một nhân vật kiệt xuất, sống và chết với nỗi khổ đau của đất nước, bên dòng sông Hương. Hai bức tượng này Lê Thành Nhơn sáng tác và dựng tác phẩm ở Huế. Riêng bức tượng “Phan Bội Châu” hoàn thành bằng chất liệu đất sét vào đầu năm 1974. Rồi ông rời Huế, sau sự biến những ngày Huế đỏ lửa, và đi định cư ở nước ngoài theo gia đình, năm 1975.

Dù xa Huế nhưng tâm hồn ông lúc nào cũng thương mảnh đất đầy thiên tai bão lũ này. Ông hướng về Huế với những tâm trạng mong nhớ và đau đáu với nỗi niềm Huế, vì ở đó có sự trao gửi đầy cảm xúc qua những ký ức không thể phai nhòa với những bạn bè như Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Khánh Ly, Bửu Chỉ… cùng với những lớp học sinh, những họa sĩ trẻ mà ông đào tạo. Khi định cư ở đất nước Úc xa xôi, những bức họa của ông luôn luôn xuất hiện chất Huế trong cảm xúc. Đặc biệt đó là hình ảnh bàn tay kỹ nữ được mô tả chi tiết sinh động qua các ngón đàn Tỳ bà, hay đàn Nguyệt cùng những xênh phách được ngân lên qua những điệu hò trên sông Hương. Bàn tay là tiếng nói của trái tim. Đó là hình là khối và là chất thơ Huế mơ mộng trong giai điệu ngọt ngào. Ông nhớ Huế là vậy. Bài thơ “Mùa thu” mà ông rất thích bởi ở đó có hình ảnh bàn tay Huế trong nỗi thu: “Chúng ta đang rơi. Bàn tay này đang rụng. Và hãy nhìn bàn tay kia, hòa một nhịp rơi chung. Nhưng có bóng ai, vẫn tịch nhiên bất động. Đôi bàn tay ôm trọn nỗi thu không”. Còn đó là bàn tay Phật lần tràng hạt, siêu thoát mà chính trong tâm hồn Lê Thành Nhơn ở nơi xa xôi kia vẫn vọng về với Huế, một Trung tâm Văn hóa Phật giáo qua hình tượng “Bồ tát Quán Thế Âm”, với cảm xúc thơ đầy tâm trạng: “Ngón tay lần chuỗi hột. Như nếm từng nỗi đau. Thời gian như chuỗi hột. Nỗi đau hóa nhiệm mầu”. Đã không ít lần ông bày tỏ với Huế, ngoài những sáng tác hội họa, mà còn dựng nhiều tượng phật bày đặt ở nhiều nơi trên đất khách quê người. Ông quan niệm Phật là Huế.

Bởi vậy khi mới sang Úc, qua bao gian khổ kiếm kế mưu sinh, trong sâu thẳm tâm hồn mình Lê Thành Nhơn chỉ nhớ về Huế. Khi ông viết thư về cho các bạn ở Huế với những dòng tâm sự da diết: “Nhớ quá! Huế quê hương vàng son, nhân tình keo sơn, tình bằng hữu liền như sông núi, mặc dù xa ngàn dặm mà sao gần trong gang tấc…”. Và nỗi niềm và nguyện vọng duy nhất trước khi mất vì trọng bệnh, năm 2002 (thọ 62 tuổi), Lê Thành Nhơn lại hướng về Huế. Ông viết thư cho bạn là Bửu Ý, nhà văn hóa kiêm dịch giả ở Huế, với những lời thống thiết: “…Nay tóc Nhơn đã rụng sạch đầu. Thư này viết cho Bửu Ý nói lời thăm hỏi nồng nàn và sâu xa nhứt. Và mình muốn nhờ Bửu Ý đưa giùm pho tượng cuối cùng của Nhơn về Huế. Nếu thấy được, xin ông bỏ chút công đức liên lạc với quý vị có quyền chức yêu nghệ thuật cho tác phẩm điêu khắc “Cô gái Việt Nam” hứng một thoáng sương mù, một thoáng nắng chơi”. Nhà văn Bửu Ý đã thấu hiểu tình yêu Huế trong lòng người bạn nơi xa xứ sắp từ giã cõi đời. Ông và bạn bè đã hết lòng để đền đáp nguyện vọng cuối cùng của một nghệ sĩ đã nặng lòng với Huế. Và hiện nay bức tượng đá trắng “Cô gái Việt Nam” (cao 3m) đã được đặt bên bờ sông Hương trước cửa trường Hai Bà Trưng gần Quốc Học Huế.

Số phận trầm luân của bức tượng “Phan Bội Châu”
Cuộc đời của Lê Thành Nhơn cũng bắt đầu trầm luân ngay từ khi dựng xong bức tượng chân dung “Phan Bội Châu” bằng đất sét ở tại Thành nội Huế. Khi bức tượng được đưa về hội đúc đồng để thể hiện đúng chất liệu sáng tác mà tác giả dự định ban đầu. Khi họa sĩ Lê Thành Nhơn bước lên con tầu rời xa đất nước thì việc đúc đồng cũng bị dừng lại vì sự kiện chiến thắng giải phóng miền Nam của quân và dân ta. Phường đúc đồng ngừng việc và ủ tượng để đấy. Và khi Lê Thành Nhơn phải tha phương làm ăn với các công việc lao động chân tay như bán vé tầu điện, sơn xe hơi và làm thuê đây đó, gần mươi năm trời; thì bức tượng “Phan Bội Châu” sau đó được đúc đồng cũng bị nhốt tại xưởng đúc cũng gần mười năm không kém. Cũng bởi bức tượng đồng lớn quá, cao 4,5m, nặng 7 tấn không biết đặt ở đâu. Mãi đến năm 1987, nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của danh nhân Phan Bội Châu, UBND thành phố Huế mới tổ chức đưa bức tượng về đặt tạm trong vườn nhà và cũng là vườn mộ Phan Bội Châu tại dốc Bến Ngự.

Và thật đặc biệt trùng khớp, đúng vào dịp này, Lê Thành Nhơn cũng được mời dậy kiến trúc tại Học viện Kỹ thuật Hoàng gia ở thành phố Melbourne, bang Victoria. Nhiều lúc ông nghĩ trong mối thần giao cách cảm là hương hồn cụ Phan đã phù hộ cho ông được trở lại với nghệ thuật. Sự nghiệp của ông bắt đầu rực rỡ trở lại. Mười năm sau ông tập trung sáng tác vẽ và dựng tượng. Liên tục ông mở hai cuộc triển lãm vào năm 1998 và năm 2000 đã làm dậy sóng dư luận quốc tế với những tác phẩm đậm chất thiền như “Sinh”, “Lão”, “Bệnh”, “Tử” và “Đất”, “Nước”, “Gió”, “Lửa”; hoặc các bức tranh khổ lớn như “Nước tôi, dân tôi” cùng với các tượng “Đức mẹ” và “Phật Thích Ca”… Nhiều tác phẩm của Lê Thành Nhơn được các nhà phê bình quốc tế đánh giá là kiệt tác và ông có nhiều bức tượng được đặt ở những nơi trang trọng ở Úc. Vào năm 2001, ông nhận lời trở về Huế để giảng dậy tại Đại học Mỹ thuật, nhưng bất ngờ ngã bệnh và mất vào cuối năm 2002, tại bệnh viện Royal, Melbuorne (Úc).

Mệnh của Họa sĩ Lê Thành Nhơn là vậy, trở về với Huế cùng với “Cô gái Việt Nam”, nhưng phận của bức tượng đồng “Phan Bội Châu” còn long đong xếp tạm ở nơi chật hẹp và khuất lấp sau bức tường rêu phong suốt hàng chục năm sau nữa. Được sự quan tâm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Huế phối hợp với Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Huế, bức tượng lớn của cụ Phan (cao 4,5m, dày 2,5m và rộng 3,5m) đã được lắp dựng tại công viên số 19 Lê Lợi, đầu cầu Trường Tiền, vào ngày 5-4-2012. Vậy là sau 37 năm long đong, bức tượng “Phan Bội Châu” mới tìm được chỗ đứng xứng đáng trong tình cảm yêu thương của người dân Thành Huế. Bởi lẽ thành phố Huế là nơi Phan Bội Châu đặt những bước chân đầu tiên trên con đường vận động cứu nước và cũng là nơi ông đã trải qua nhưng năm tháng dài cuối đời. Họa sĩ Đinh Cường đã từng nhận xét: “Nhìn bức tượng Phan Bội Châu của Lê Thành Nhơn, tôi hay liên tưởng đến một đỉnh núi; ở đó, từ đôi lông mày cho đến hàm râu đều mang hình ảnh của những triền đá. Nó đẹp cái đẹp rất xương xẩu, rất cứng cáp. Cái đẹp của xương rồng, của kim khí. Sắc và mạnh”. Tác phẩm điêu khắc này được đánh giá là pho tượng đồng lớn nhất và đẹp vào bậc nhất nước ta hiện nay, có giá trị tư tưởng cao, gắn với lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Nỗi nhớ sông Hương

Nghe các bạn thân thiết của nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn nói, sinh thời ông rất thích ca khúc “Hát thơ tình cờ”. Đó là một bài hát về một dòng sông. Lê Thành Nhơn đặc biệt yêu thích bài hát này và rất thích nghe nó. Đôi lúc ông còn thầm hát tự lòng mình vì nỗi nhớ con sông Hương như một ký ức về con sóng mênh mông, với tâm trạng của một nghệ sĩ tha hương: “Người như hạt nước trên dòng sông chảy xiết. Làm sao đừng cuốn trôi theo dòng nước vô tình về chân trời xa. Người như ngọn lá trong rừng thu tàn úa…”. Đó là bài hát của Hoàng Ngọc Tuấn sáng tác năm 1985. Đúng vào thời điểm, họa sĩ Lê Thành Nhơn còn phải đang làm thuê, làm mướn trên một bến tàu. Đó là nỗi nhớ trào dâng trong trái tim lang thang vô định.

Nhưng tất cả vẫn còn đó một tình yêu và hy vọng. Bởi trên dòng sông Hương ngày ấy, bức tượng Bồ tát Quán Thế Âm đang ngóng đợi người con yêu thương Huế. Và cùng với đó là bức tượng Phan Bội Châu đã được sắp xếp trở về mái nhà bên Dốc Bến Ngự. Niềm vui ấy khích lệ ông, người nghệ sĩ nở nụ cười hát với nỗi khắc khoải rằng: “Hoàng hôn ở đó, con người ra đường phố. Chờ xem một đóa sao lạc mất khung trời tìm lối về”. Và từ đó tâm hồn ông luôn tìm lối về bên sông Hương, núi Ngự, để cùng hát làn điệu dân ca ngọt ngào, trên những con đò lặng lẽ trôi.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: