THÊM Ý KIẾN VỀ SAI SÓT TRONG TỰ ĐIỂN TIẾNG VIỆT CỦA GS NGUYỄN LÂN

TBT Sau khi cuốn Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu của Hoàng Tuấn Công ra đời, dù có khá nhiều lời khen ngợi, nhưng cũng lác đác có người phản bác.  Hiện nay, những người bênh vực cụ Nguyễn Lân đã có hai thái độ:

(1) phản bác rất trịch thượng, cảm tính, thậm chí “dựa hơi”, “học phiệt”…và

(2) không thèm tranh luận lý lẽ mà bằng sự im lặng, tỏ ý “bỏ ngoài tai”. 

  Theo tôi, một công trình khoa học chắc chắn không thể nào toàn bích, không sai sót, không có chỗ phải bàn lại. Nhưng phải tranh luận (discuss) với thái độ khoa học, đúng-sai, sòng phẳng; không được cãi lộn (quarrel) và càng không được có thái độ áp đặt, “học phiệt” với nhau.

 Xin trích đăng comment khá súc tích của An Chi và Đoàn Lê Giang về vấn đề này

TỪ ĐIỂN PHẢI LÀ KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC

An Chi

http://tuoitre.vn/tu-dien-phai-la-khuon-vang-thuoc-ngoc-1378207.htm

an chi.jpg

LỜI CẢNH CÁO CÁC NHÀ HỌC PHIỆT

Đoàn Lê Giang PGS. TS Ngữ văn, ĐH KHXHNV tp HCM

https://xuandienhannom.blogspot.com/2017/09/oan-le-giang-loi-canh-cao-cac-nha-hoc.html

cảnh cáo.jpg

TỪ ĐIỂN PHẢI LÀ KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC

TTCT – Từ điển phải là khuôn vàng thước ngọc. Dứt khoát phải như thế. Nhưng đó chỉ là nguyên tắc chứ trong thực tiễn thì nói chung, từ điển, dù có hoành tráng đến đâu, cũng khó lòng có thể tránh được sai sót một cách tuyệt đối.

Rất nhiều kiểu sai

Hoành tráng đến như Grand Larousse encyclopédique en 10 volumes (1963) mà còn lấy ảnh ông Phạm Văn Đồng để minh họa cho mục “Vô Nguyen-Giap” (Võ Nguyên Giáp), như chúng tôi đã chỉ ra ngày nào trên Kiến Thức Ngày Nay số 335.

Đồ sộ đến như The Encyclopedia of language and Linguistics (10 vols), do R. E. Asher làm tổng chủ biên (Pergamon Press, First Edition 1994) mà còn ghi chú “mệnh” [命] là density (tỉ trọng) thay vì destiny tại mục “Vietnamese Writing System” (Vol. 9, p. 4935).

Nhưng cái sai của hai bộ đại từ điển trên đây có nhiều phần chắc chắn không phải do lỗi của người soạn thảo mà do khâu trình bày.

Còn sai hoặc thiếu ý do biên soạn thì danh tiếng đến như từ điển của Oxford cũng đâu có tránh khỏi, như chúng tôi đã nêu trên Kiến Thức Ngày Nay số 232 và đặc biệt là trên số 143 về danh từ canary.

Danh từ này được Oxford Advanced Learner’s Dictionary giảng là “a small yellow bird with a beautiful song, often kept in a cage as a pet” (chim nhỏ màu vàng, có tiếng hót hay, thường nhốt trong lồng làm [chim] kiểng). Dưới đây là nhận xét của chúng tôi:

Ai có chơi yến (canary) cũng có thể thấy đây là một định nghĩa không chính xác vì ngoài những con yến màu vàng, còn có những con màu trắng, những con màu saumon, những con màu ardoise, những con màu agate, những con màu isabelle, những con màu vert, những con màu rouge intensif…;

thậm chí bây giờ người ta còn muốn tạo ra những con yến màu đen! Phó từ thường (often) trong định nghĩa trên đây cũng thừa vì chẳng có con yến nào mà lại không được nuôi trong lồng, vì người ta chẳng bao giờ thả yến như thả bồ câu hoặc thả sáo, thả cưỡng”.

a
 

Thế nhưng, nếu cái sai của người chỉ là cá biệt, ít ỏi thì của ta lại ồ ạt, tràn lan. Nội dung của từ điển không chỉ yêu cầu sự uyên bác về chuyên môn mà còn đòi hỏi tác giả phải có một vốn sống phong phú, thường là khó đáp ứng được trọn vẹn cho sự hoàn hảo của công trình.

Vì thế cho nên việc điều tra hoặc tra cứu thấu đáo phải là những thao tác quen thuộc, thường xuyên của từ điển gia.

Về mặt này thì tác giả của mục canary trong từ điển Oxford thua hẳn những người chơi chim. Năng lực chuyên ngành cao đến đâu mà vốn sống thực tế lại nghèo nàn thì nội dung của lời giảng cũng khó mà đầy đủ hoặc tuyệt đối chính xác.

Tiến sĩ ngôn ngữ học chuyên về địa danh mà không có thực tế về địa chỉ hoặc địa phương mình muốn giới thiệu thì cũng sai sót như thường.

Chẳng thế mà quyển Từ điển thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh do Lê Trung Hoa đồng chủ biên (Nxb Trẻ, 2001) lại có không ít sai sót về mặt này mà sau đây là một thí dụ. Tác giả của mục từ đã viết: “Yểm Yểm thư quán (Nxb). Nhà sách kiêm xuất bản. Năm thành lập: 1970. ĐC: 72 Trần Văn Thạch, SG” (tr.886).

Ở đây có bốn chỗ sai. Thứ nhất, tên của hiệu sách này là “Yiễm Yiễm thư quán” (“viết Yiễm Yiễm, đọc Diễm Diễm”, theo lời giải thích của chủ nhân) chứ không phải là “Yểm Yểm”.

Thứ hai, đây không phải là nhà xuất bản mà chỉ là một chi nhánh của Yiễm Yiễm thư trang, 113-115 Kitchener (nay là đường Nguyễn Thái Học), do ông Đông Hồ và bà Mộng Tuyết chủ trương.

Thứ ba, ngay cả Yiễm Yiễm thư trang cũng không phải là nhà xuất bản mà lại là nơi phát hành của Nhà xuất bản Bốn Phương, cũng do ông Đông Hồ và bà Mộng Tuyết làm chủ.

Thứ tư là về thời điểm thành lập thì các nhà biên soạn cũng đi trễ gần hai thập kỷ vì Yiễm Yiễm thư quán thành lập hồi thập kỷ 1950 chứ không phải năm 1970.

Ấy là ta còn chưa nói đến chuyện tuy có kiến thức chuyên sâu nhưng không có tinh thần trách nhiệm thì công trình cũng đầy rẫy sai sót, như Dictionarium Anamitico Latinum của Pierre Pigneaux de Béhaine do Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu (NXB Trẻ, 1999), thì phần dịch từ tiếng Latin sang tiếng Việt có quá nhiều chỗ sai mà chúng tôi đã nêu lên 100 trường hợp trên tạp chí Thông Tin Khoa Học & Công Nghệ Thừa Thiên – Huế, số 3-2000.

Hoặc không biết kiến thức chuyên môn sâu đến đâu và tinh thần trách nhiệm của họ thế nào mà quyển Ngũ thiên tự do Vũ Văn Kính và Khổng Đức nhận mình là người biên soạn cũng đầy rẫy sai sót về nhiều mặt, như chúng tôi đã nêu lên 118 trường hợp, cũng trên tạp chí của Thừa Thiên – Huế, số 2-1997.

Quyển Việt sử diễn âm do PGS.TS Nguyễn Tá Nhí sưu tầm, giới thiệu và biên dịch (NXB Văn Hóa Thông Tin, 1997) thì lại có quá nhiều sai sót trong “biên dịch” và chú giải, như chúng tôi đã chỉ ra trên Kiến Thức Ngày Nay số 261 (20-10-1997).

Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng không tránh khỏi nhiều sai sót loại đó. Bộ từ điển này quy tụ rất nhiều nhà chuyên môn mà danh tính được liệt kê trong những danh sách dày đặc cho từng chuyên ngành nhưng rất tiếc là có “chuyên gia” lại phạm sai lầm sơ đẳng, như tác giả của mục sau đây tại tr.359, tập 2:

Hổ phù (tiếng Sanskrit: Râhu), linh vật trong huyền thoại Ấn Độ. Hổ phù vốn là quỷ, do sự phát hiện của thần Mặt Trời, Mặt Trăng mà bị Visnu (Vishnu) chặt đứt làm đôi, nửa trên là Hổ Phù, nửa dưới là Kế Đô (Kétu)”.

Chỉ cần nói rằng “hổ phù” [虎符] là một khái niệm của Trung Hoa còn rāhu lại là một khái niệm của Ấn Độ thì ta đã có thể biết được trình độ của vị chuyên gia này như thế nào rồi (lẽ ra từ điển phải ghi danh tính của anh ta ở cuối mục).

Không biết có phải của cùng một chuyên gia hay không mà mục sau đây cũng quái dị không kém khi ghi chú cho mục “Long” như sau: “(Sanskrit: Naga), loài rồng”. “Long” là rồng của Trung Hoa, còn nāga là rắn của Ấn Độ thì hai bên có liên quan gì với nhau?

Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ Trung Hoa nên kiến trúc của chùa thường có trang trí hình rồng, còn Campuchia chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa nên chùa của họ thường trang trí hình rắn. Danh từ nāga của tiếng Sanskrit có bao giờ có nghĩa là rồng?

Thật đáng phẫn nộ là có nhiều vị ăn theo những công trình lớn như trên để làm hại ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc.

Ấy thế nhưng ở ta lại còn có một cái tệ rất tệ là nể nang nhau, cụ thể là không dám nêu rõ những cái sai của nhau nên sai sót cứ tồn tại dài dài, như chuyện pre và proto dưới đây:

Pre là “tiền” (= trước) còn proto là “nguyên sơ” (= ban đầu). Thế nhưng trên 30 năm nay, ngành ngữ học của Việt Nam, dẫn đầu còn có cả GS Nguyễn Tài Cẩn, chuyên dịch proto thành “tiền”, chẳng hạn proto Việt Mường là “tiền Việt Mường”, proto Việt Chứt là “tiền Việt Chứt”…

Họ hoàn toàn không phân biệt rằng hễ nói pre-X là nói đến một cái có trước X và nằm ngoài X; còn hễ nói proto-X là nói đến chính X ở giai đoạn ban sơ. Làm khoa học mà không đếm xỉa đến những chuyện tế nhị nhưng trọng đại như thế thì rất nguy hiểm.

a
 

Về sai lầm và cốt cách của người làm khoa học

Hồi nhà ngữ học kiệt xuất Cao Xuân Hạo còn sống, khi ông thẳng thắn vạch trần những cái sai của một nhân vật trong giới ngữ học và giới đại học thì một số người có vai vế của Viện Ngôn ngữ học khuyên ông đừng làm thế.

Đó hiển nhiên không phải là cách hành xử của nhà khoa học chân chính. Làm khoa học không phải là “nhường nhịn” nhau về chuyên môn để giữ ghế.

Phương châm chính và xuyên suốt của người làm khoa học là “tránh sai lầm”, nhưng khi mình thực sự có sai lầm mà sai lầm đó lại được người khác chỉ ra giúp thì mình phải tỉnh ngộ và còn phải cảm ơn người đó nữa là đằng khác. Đằng này…

Trong công việc của mình, có ba lần chúng tôi nhận xét về từ điển của tác giả Nguyễn Lân và cả ba lần chúng tôi đều được cụ mắng mỏ.

Lần đầu tiên là trên Kiến Thức Ngày Nay số 277 (10-4-1998). Chúng tôi đã nhận xét về câu “Áo cứ chàng, làng cứ xã” trong Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của cụ, rồi cũng bị cụ mắng là “vô văn hóa”.

Nhưng chúng tôi không hề lấy thế làm phiền lòng mà còn cảm thấy vui vui vì biết rằng tác giả là người từng được tôn sùng, xưa nay chưa được ai “gãi ngứa” nên khi được gãi thì giãy nảy lên là chuyện bình thường.

Nếu cần đặt tay lên lương tâm để tự vấn thì chúng tôi xin thẳng thắn nói rằng mình không hề giận cụ Nguyễn Lân. Nhưng những cái sai, rất nhiều, trong từ điển của cụ thì nhất thiết phải được vạch rõ.

Cũng từng có người làm, mà Lê Mạnh Chiến là một người khảng khái và kiên quyết. Nhưng có vẻ như vẫn chưa “đủ đô” đối với một số khá đông độc giả, và cả nhiều nhà chuyên môn.

Vậy phải có một cái gì đó thật hoành tráng thì mới lay động được thật dữ dội cái tệ sùng bái cá nhân rất có hại cho học thuật.

Cái gì đó đã đến: quyển sách khổ 16x24cm, dày 570 trang của Hoàng Tuấn Công nhan đề Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu, do Phương Nam Books và NXB Hội Nhà Văn vừa ấn hành 2.000 bản.

LỜI CẢNH CÁO CÁC NHÀ HỌC PHIỆT

Giáo sư Nguyễn Lân là một tên tuổi lớn trong làng chữ nghĩa, nhất là về phương diện từ điển. Đọc lý lịch của ông, thấy những nơi ông từng học, từng làm việc, ai cũng phải kiêng nể: tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (đồng môn với các Giáo sư Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Ca Văn Thỉnh…), từng giảng dạy văn sử ở trường Thăng Long, Chu Văn An (Hà Nội), Quốc học (Huế), từng học ở khu học xá Quảng Tây, Trung Quốc, từng dạy Đại học Sư phạm Hà Nội từ ngày đầu thành lập, từng được phong là Nhà giáo nhân dân… 

Sai sót đã được chỉ ra từ lâu

Các công trình để lại của ông cũng thật đáng nể: Nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ từ 1941, tham gia biên soạn cuốn từ điển tiếng Việt nổi tiếng nhất ở miền Bắc trước 1975: Từ điển tiếng Việt do GS Văn Tân chủ biên (1967), nhất là ông là tác giả của hàng chục cuốn từ điển nổi tiếng: Muốn đúng chính tả (1949), Từ điển chính tả phổ thông (1963, viết chung), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt (1989), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989), Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000)… Các công trình về giáo dục học và từ điển tiếng Việt của ông được Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2001. 

Thế nhưng ngay từ khi từ điển của Nguyễn Lân ra đời không lâu thì đã có phản ứng của giới học thuật. Trên tạp chí Văn ở TP Hồ Chí Minh, số 6, tháng 9 và số 8, tháng 11 năm 2000, Huệ Thiên trong bài viết Đọc lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, mới chỉ “đọc lướt’’ các vần A, B, C (chiếm 1/5 quyển sách) mà đã chỉ ra 117 mục từ sai. Tiếp đó Lê Mạnh Chiến chỉ ra 170 sai lầm trong một cuốn từ điển để đăng nhiều kỳ trên tạp chí Thế giới mới… và nhiều bài phê bình khác nữa. 
Thay vì trả lời nghiêm túc và chỉnh sửa những chỗ sai, thì Giáo sư Nguyễn Lân lại phủ nhận tất cả các ý kiến của nhà nghiên cứu Huệ Thiên, cho nó là sai lệch và từ nào cũng mắc sai lầm cả, mà không chỉ ra sai lầm chỗ nào. Đối với bài viết của Lê Mạnh Chiến cũng vậy, những người thuộc “phe” cụ đã có những tác động ngoài học thuật: khiến cho tạp chí Thế giới mới đã đăng được 6 kỳ (từ số 582 ra ngày 26/4/2004 đến số 587 ra ngày 31/5/2004), mới nói được 67/ 170 lỗi thì bị dừng lại. Sau đó Lê Mạnh Chiến đã phải đăng bài ở tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Thừa Thiên-Huế) với tiêu đề Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt. Bài viết được tạp chí Văn hóa Nghệ An số 56 (tháng 01/2005) đã đăng lại sau đó. 

Mặc dầu đã có một số người vạch ra chỗ sai một cách cụ thể với số lượng rất lớn như thế, nhưng các nhà xuất bản vẫn liên tục in ra với số lượng lớn: Từ điển từ và ngữ Hán Việt được NXB. TP. Hồ Chí Minh in năm 1989, tái bản 1999; NXB. Từ điển Bách khoa in lại, 2002; NXB. Văn học tái bản 2003, 2007; Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, xuất bản lần đầu năm 1989, NXB. Khoa học xã hội tái bản năm 1993; riêng NXB. Văn học, năm 2003 tái bản lần thứ nhất, sau đó liên tục các năm 2014, 2015, 2016, 2017 tái bản tổng cộng đến gần 10.000 cuốn; Từ điển từ và ngữ Việt Nam NXB. Tổng hợp TP.HCM xuất bản lần đầu năm 2000, tái bản 2006; Muốn đúng chính tả, Thịnh Đức xuất bản, 1949; NXB. Văn hóa Thông tin tái bản 2010, 2012… Hoàng Tuấn Công lên tiếng 

Trước tình hình ấy Hoàng Tuấn Công đã viết hàng loạt bài chỉ ra những sai sót trong các công trình từ điển của Giáo sư Nguyễn Lân của đăng trên Blog Tuấn Công thư phòng và được nhà văn Nguyễn Quang Lập đưa lên Blog của mình. Vừa qua các bài viết ấy đã được biên tập, sắp xếp lại thành quyển sách Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu, NXB. Hội Nhà văn và Công ty Sách Phương Nam xuất bản quý 3 năm 2017 vừa rồi. Đọc sách của Hoàng Tuấn Công, người ta không thể tin nổi từ điển của GS Nguyễn Lân lại sai nhiều, sai rõ ràng như vậy! 

Quyển sách dày 676 trang khổ 16×24 cm sửa chữa hàng ngàn lỗi trong Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Muốn đúng chính tả của GS. Nguyễn Lân. Với mỗi mục từ giải thích sai, Hoàng Tuấn Công đều trưng ra các cách hiểu đúng trong các từ điển uy tín khác, bằng tiếng Việt cũng như tiếng Hán hay ngoại ngữ khác, rồi biện luận nó. Xin đưa vài ví dụ dễ thấy nhất và chỉ ở 3 mục A, B, C: 
 
NL: Ái nam, ái nữ. Có cả hai bộ phận sinh dục ngoài của nam và nữ.
HTC: Nếu theo cách mô tả của GS Nguyễn Lân có lẽ đây là một ca sinh đôi có “cả hai bộ phận sinh dục ngoài” của một người nam và một người nữ nhưng chung một cơ thể chăng? Theo Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức “Ái nam. Tiếng gọi đàn ông hay đàn bà không đủ bộ phận sinh dục. Có khi gọi ái nam, ái nữ, cũng là người bán nam, bán nữ”. Từ điển tiếng Việt của nhóm Hoàng Phê giải nghĩa: “Ái nam, ái nữ. Có bộ phận sinh dục ngoài không giống của nam, cũng không giốngcủa nữ”. Như vậy cách “hình dung” về bộ phận sinh dục người ái nam, ái nữ của soạn giả không đúng và nghe thật đáng sợ !
NL: Anh hùng nhất khoảnh (khoảnh: thời gian ngắn) Nói người tự cho mình là hơn cả mọi người trong một thời gian: Ở bến xe có tên lưu manh tự mình cho là anh hùng nhất khoảnh.
 
 
HTC: Chữ “khoảnh” trong câu thành ngữ gốc Hán này tự dạng là (頃), có nhiều nghĩa: khoảng ruộng 100 mẫu; thoáng chốc, khoảnh khắc… Ở đây, khoảnh (nghĩa đen = khoảng rộng 100 mẫu) được hiểu là một vùng, một địa phận, khu vực (chỉ không gian) chứ không phải khoảnh khắc (chỉ thời gian) như GS lầm tưởng. Thành ngữ nói kẻ chỉ (dám) xưng hùng, xưng bá, làm mưa làm gió trong một khu vực nhất định. Cái “bến xe” mà tên lưu manh tự xưng anh hùng trong câu dẫn chứng của GS chính là“nhất khoảnh” (chỉ không gian) đấy thôi.
NL: Âm phủ (âm: chết; phủ: dinh thự) Chỗ người chết ở theo mê tín.
HTC: Sai ! Ở đây “âm” là thế giới của người chết chứ không phải “chết”, “phủ” là là cõi chứ không phải “dinh thự”.
NL: Bất chắc. Không chắc nhưng có thể cũng sẽ diễn ra: Phòng khi bất chắc dụng binh (Tú-mỡ)
HTC: Người Việt chỉ nói không chắc chứ không dùng kết hợp từ: bất (không) + chắc (chắc chắn) = không chắc. Hơn nữa, soạn giả đã lẫn lộn giữa bất chắc (từ do tự GS Nguyễn Lân nghĩ ra) có nghĩa không chắc và bất trắc với nghĩa không lường được trong câu thơ của Tú Mỡ. Sai sót này xuất phát từ lỗi phát âm không phân biệt “ch”và “tr” dẫn đến lỗi chính tả, và cuối cùng là lỗi từ vựng của chính người làm từ điển.
NL: Cầm cương nảy mực (Cầm cương ngựa và nảy mực lên mặt gỗ để cưa). Điều khiển và chỉ dẫn những người dưới quyền làm theo: Trong những năm Hồ Chủ tịch cầm cương nảy mực.
HTC: Nhầm lẫn. Cầm cân chứ không phải “cầm cương”. Có lẽ GS cho rằng người cầm cương điều khiển để con ngựa rẽ theo ý muốn, còn người nảy mực nảy lên mặt gỗ để chỉ dẫn thợ mộc cứ thế làm theo? Thế nhưng người ta dùng chiếc cân để so sánh với công lý, và nảy mực tàu được ví với cách làm thẳng thắn, khách quan, không thiên, không lệch (có câu Thẳng mực tàu làm đau lòng gỗ là vậy). Hai vế của thành ngữ đều nói về sự thẳng thắn, công bằng, không thiên, không lệch, chứ không phải nói về sự dẫn đường chỉ lối. Cũng nên lưu ý soạn giả: người ta chỉ nảy mực lên mặt gỗ để xẻ (dọc) cho thẳng. Còn “cưa” (ngang) không ai nảy mực làm gì.
NL: Cử tọa (cử: cất lên; tọa: ngồi) Tất cả những người dự một buổi họp: Lời tuyên bố đó khiến cử tọa vỗ tay như pháo nổ.
HTC: Ở đây Giáo sư giảng sai nghĩa của cả hai từ “cử” và “tọa”. Cho dù đều có tự dạng là舉, nhưng chữ “cử” trong cử tọa nghĩa là hết thảy, tất cả chứ không phải là “cất lên”. Ví như cử quốc = cả nước (Hán Việt tự điển – Thiều Chửu) Hán Việt tự điển-Trần Văn Chánh giải nghĩa chữ “cử”: “Cả, khắp, tất cả đều, mọi, hết thảy mọi người: 舉座 Tất cả những người dự họp; 舉國歡騰 Khắp nước tưng bừng”. Thứ hai, chữ “tọa” (座) đây là chỗ ngồi chứ không phải chữ “tọa” (坐) là “ngồi”. 
Về chính tả, sách GS. Nguyễn Lân sai sơ đẳng quá, không hiểu nổi: 

Trỗi dậy, Từ điển Nguyễn Lân dạy viết (sai) là: Chỗi dậy; Rớm máu, sai thành: Dớm máuQuyến rũ, sai thành Quyến dũ; Sàm sỡ, sai thành: Xàm xỡ; Sặc sỡ, sai thành Xặc sỡ; Màu sẫm, sai thànhMàu xẫm; Con rạ, sai thành Con dạ; Xơ cứng, sai thành Sơ cứng; Muỗi như trấu, sai thành Muỗi như chấu; Nõ điếu, sai thành Lõ điếu v.v. “Học phiệt” – chuyện xưa nay

Tại sao cụ sai nhiều như vậy? Theo tôi nghĩ có ít nhất 4 nguyên nhân:

(1) Cụ không có mẫn cảm về ngôn ngữ nhưng vẫn làm từ điển, cụ không rành chữ Hán mà vẫn làm từ điển từ ngữ Hán – Việt. Làm từ điển tiếng Việt mà không rành chữ Hán là tử huyệt của nhiều người làm ngôn ngữ ở nước ta;

(2) Thiếu cẩn trọng: thực ra thì trước và cùng thời với từ điển của Nguyễn Lân đã có không ít từ điển tiếng Việt tốt, nếu cụ cẩn trọng tra cứu, chỗ nào không rành thì chép của người ta cũng không đến nỗi sai;

(3) Thiếu kỹ năng làm từ điển: thực ra làm từ điển là một ngành học, phải có hiểu biết nhất định về từ điển học mới có thể làm từ điển được;

(4) Thiếu một thái độ cầu thị: khi người ta chỉ ra sai lầm của mình thì cần nghiêm túc xem xét lại, không được tự ái, cái gì sai thì nhận, cái gì đúng thì trao đổi lại cho rõ. 

Thiếu những phẩm chất ấy mà vẫn làm từ điển nên mới sai như vậy. Không thể nói tôi yêu tiếng Việt nên tôi làm từ điển. Yêu, nhưng anh có đủ năng lực để yêu không? Không phải ai cứ yêu tiếng Việt rồi ngồi làm từ điển. Cũng không thể nói cụ làm từ điển lúc cụ trên 90 tuổi rồi, nên sai. Nếu đã 90 rồi thì tốt nhất các cụ nên vui hưởng tuổi già, tưới cây, chơi với cháu chắt, ai bắt các cụ ngồi làm từ điển làm gì cho khổ mình khổ người. 
Để bênh vực cụ, có những quan chức trong ngành xuất bản còn nói như những người ngoại đạo hoàn toàn: “Chỉ có nhân dân mới hiệu chỉnh, còn nhà khoa học này không thể hiệu chỉnh nhà khoa học khác mà chỉ có thể trao đổi” (!) (Cục trưởng Cục xuất bản – in và phát hành Chu Văn Hòa trong trả lời phỏng vấn của VOV ngày 11-8-2017). Chúng ta đều biết nhân dân là một khái niệm trừu tượng, làm sao sửa? Trong khoa học có sai có đúng, có những cái sai chỉ những người có chuyên môn sâu về lĩnh vực ấy mới hiểu được, nhưng cũng có cái sai mà người có hiểu biết ở trình độ phổ thông cũng hiểu, thậm chí có những cái sai thì học sinh cũng có thể sửa được (như trường hợp sai chính tả). 
Trong khoa học hay trong đời sống cũng vậy, không ai biết hết được, sai thì sửa, không nên tự cao tự đại, tự ái: mình chỉ có đúng, không ai sửa được mình, hay mấy người kia trẻ con biết gì! 
Năm 1930 trên Phụ nữ tân văn, Phan Khôi lúc bấy giờ mới hơn 40 tuổi, đã viết bài Cảnh cáo các nhà “học phiệt” nhắm tới Phạm Quỳnh, một học giả lừng danh bấy giờ, ông viết: “Học phiệt” là “Hạng người ấy ỷ có học rộng, tri thức nhiều, văn hay, trí thuật cũng khá, rồi tự coi mình như là bậc “thầy”, chẳng kể dư luận ra chi. Đã hay rằng mình giỏi, song thế nào cho khỏi sự sai lầm, vậy mà họ tự phụ quá, cứ mạt sát hết. Ừ, cái dư luận nào không chánh đáng, họ mạt sát chẳng nói làm chi; cái nầy, khi người ta công kích họ một cách chánh đáng, mà họ cũng làm thinh. Làm thinh, không phải tỏ ra là họ phục; nhưng làm thinh, tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét. Tôi dâng cho họ cái huy hiệu “học phiệt”, lấy nghĩa rằng họ có ý kế nghiệp nhau mà chuyên quyền trong học giới, cũng như bọn “quân phiệt”, đã nối nhau mà chiếm cứ đất đai và quyền chánh trị bên Tàu.” (Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 62 ngày 24.7.1930). 
Công trình Từ điển tiếng Việt của GS. Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu của Hoàng Tuấn Công không phải không có sai sót, không phải không ít chỗ phải bàn lại, nhưng điều đáng ghi nhận là ở thái độ khoa học sòng phẳng. Công trình này đã làm được công việc như Phan Khôi nói trước kia: cảnh cáo các nhà “học phiệt” – trong khoa học, chỉ có đúng sai, không có chỗ cho học phiệt, nhờ thế nhận thức của con người mới tiến lên. 
Nếu Giáo sư Nguyễn Lân còn sống, tôi không nghĩ cụ là “học phiệt”, mà chắc cụ sẽ trả lời các phê bình. Nhưng những người bênh vực cụ không phải bằng lý lẽ mà bằng sự im lặng, hay phản bác trịch thượng, thì làm sao tránh được sự cảnh cáo kia? Đoàn Lê Giang 
(Trường ĐH KHXH và Nhân văn – ĐHQG-HCM)
Tuổi trẻ cuối tuần ngày 10/9/2017 đã đăng sau khi biên tập lại.
——————————

Đoàn Lê Giang

HAI TỪ LIỀN NHAU CỤ LÂN GIẢI NGHĨA SAI CẢ HAI 

Trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân – NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh – 2006), mục “hàn mặc” và ngay dưới đó “hàn nho”, tác giả Nguyễn Lân giải thích như sau (không chụp ảnh thì không ai tin):

– “hàn mặc • dt. (H. hàn: lạnh, nghèo khổ, mặc: mực.- Nghĩa đen là bút mực) Văn chương (cũ)
– “hàn nho, dt, (H. hàn: ngọn bút; nho: nhà nho) Học trò nghèo…” 
 

Ý kiến của tôi: Cả hai từ cụ giảng sai cả hai: 

Chữ Hàn mặc 翰 墨, thì Hàn: bút; mặc: mực. Hàn mặc là bút mực, chỉ văn chương. 

Chữ Hàn nho 寒 儒, thì Hàn: lạnh, nghèo; nho: nhà nho. Hàn nho là nhà nho nghèo. Cụ giảng lộn tùng phèo. May mà cháu không học cụ, may là cháu không dùng từ điển cụ. TĐ của cụ thế này khiến cho tôi nghi ngờ: không lý cụ NL không biết chữ Hán? 

Từ đây đặt ra câu hỏi: trình độ thẩm định của biên tập viên như thế có được phép biên tập từ điển không? Và NXB nào mới được phép in từ điển? Không trả lời được câu hỏi này thì chúng ta còn tiếp tay cho di hại văn hóa? Trước kia có NXB khá nổi tiếng in Từ điển Vũ Chất trở thành “thảm họa từ điển” (anh Chu Mộng Long đã từng phê bình gay gắt), nay thì nhiều nhà in từ điển Nguyễn Lân! Sai quá! Có người đề nghị thu hồi từ điển NL. Tôi thì hiền hơn: đề nghị các NXB nào lỡ in rồi thì rút ở các hiệu sách lại và công bố đổi từ điển NL lấy từ điển của Viện Ngôn ngữ, ai không chịu thì hoàn tiền lại.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: