Archive for the ‘Endocrinology & Metabolism’ Category

MẬT ĐỘNG VẬT: CHẤT THẢI, KHÔNG PHẢI THUỐC!

Tháng Mười Một 18, 2017

ANIMAL BILE: A WASTE NOT A MEDICINE !      

TS.BS Trần Bá Thoại  Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

http://dantri.com.vn/suc-khoe/mat-dong-vat-chat-thai-khong-phai-thuoc-20171116150925964.htm

 Dân trí Thỉnh thoảng lại có thông tin ngộ độc do dùng mật động vật để chữa bệnh hay nâng cao sức khỏe, và đã có trường hợp tử vong.

 Theo sinh học, mật chỉ là một dịch thải qua đường tiêu hóa của các chất cặn bã, chất chuyển hóa, chất độc…ra khỏi cơ thể động vật. Ngoài ra dịch mật có thể chứa các mầm bệnh vi trùng, siêu vi, ký sinh trùng gây bệnh…

 Kháo nhau dùng mật động vật

  Lấy lý do tân dược, thuốc tây, là những hóa chất tổng hợp có nhiều tác dụng không mong muốn hay phản ứng phụ, người ta kháo nhau, truy tìm và sử dụng những bài vị thuốc y học cổ truyền để “không bổ ngang cũng bổ dọc” không chữa bệnh cũng nâng cao sức khỏe, mạnh sinh lý….

(more…)

Advertisements

TRÁI DỨA: ẨM THỰC, DINH DƯỠNG

Tháng Mười Một 17, 2017

BS Nguyễn Ý Đức Texas- Hoa Kỳ

http://www.bsnguyenyduc.com

DỨA

Dứa là trái cây miền nhiệt đới, có nguồn gốc từ các quốc gia miền Trung và Nam Mỹ. Khi Christopher Columbus (1451-1506) thám hiểm Mỹ Châu, thấy dứa trồng ở quần đảo Guadeloup rất ngon, bèn mang về dâng lên nữ hoàng Tây Ban Nha Isabella Đệ Nhất. Từ đó, dứa được trồng ở Tây Ban Nha, nhất là các quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương.

Cây dứa thân ngắn, là dài và cứng, có gai mọc ở mép, quả có nhiều mắt, phía trên có một cụm lá.

Nông trại trồng dứa quy mô lớn nhất đầu tiên trên thế giới được thiết lập ở Hawai vào năm 1885. Quần đảo này dẫn đầu về việc sản xuất dứa trên thế giới cho tới năm 1960. Sau đó Phi Luật Tân là nước trồng và xuất cảnh nhiều dứa nhất.Các quốc gia khác ở Đông Nam Á cũng sản xuất một lượng dứa khá lớn.

Nhờ kỹ thuật canh tác từng loạt nên nhu cầu tiêu thụ dứa được đáp ứng đầy đủ với giá phải chăng.

Dứa có quanh năm, nhưng nhiều nhất vào tháng 6, tháng 7. Trung bình từ lúc trồng tới lúc thu hoạch mất 18 tháng. Dứa đã chín nên sẵn sàng để ăn.

Thành phần dinh dưỡng.

(more…)

LINH CHI: THỰC PHẨM CHỨC NĂNG QUÝ!

Tháng Mười Một 16, 2017

NẤM LIM XANH:  DƯỢC LIỆU QUÝ TỪ NÚI RỪNG QUẢNG NAM!      

TS.BS Trần Bá Thoại  Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

Lời bàn Người dân ở vùng rừng suối Bùn, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam thường thu hái một loại nấm mọc trên các gốc cây lim xanh cổ thụ, nấm Lim xanh, để làm thực phẩm thuốc chữa bệnh.

  Năm 2011, Viện Dược liệu trung ương, phối hợp với ĐHQG Hà Nội và ĐH Chungnam Hàn Quốc, xác nhận nấm Lim xanh Quảng Nam là một loại nấm thuộc họ Linh chi, một loại thực phẩm chức năng quý giá hổ trợ chữa được nhiều bệnh hiểm nghèo. 

Định danh

   Ở Tiên Phước, Quảng Nam, người dân địa phương thường thu hái những cây nấm linh chi mọc tự nhiên dưới gốc các cây lim xanh nên đặt tên là nấm Lim xanh.

  Thật ra, tên chính thức của họ nấm này là Linh chi (tiếng Hoa Lingzhi nghĩa là Trường thọ), các tên khác là Thần thảo, Tiên thảo, Trường thọ, Vạn niên, tên khoa học là Ganoderma lucidum (nấm Da sáng) thuộc họ nấm gỗ, Linh chi (Ganodermataceae).

  Người Trung Quốc đã sử dụng Linh chi làm thuốc trên 2000 năm. Họ xếp Linh chi vào loại thượng phẩm, là một vị thuốc quý trong “Thần nông bản thảo” và “Bản thảo cương mục”….

  Hiện đã có 6 loại nấm linh chi được nghiên cứu, sử dụng rất rộng rãi và rất chi tiết là: Linh chi xanh (Thanh chi, Long chi); Linh chi đỏ (Xích chi, Hồng chi, Đơn chi); Linh chi vàng (Hoàng chi, Kim chi); Linh chi trắng (Bạch chi, Ngọc chi; Linh chi đen (Hắc chi, Huyền chi); và Linh chi tím (Tử chi, Mộc chi). Trong đó Linh chi đỏ là loại nấm có dược tính mạnh nhất, được nuôi trồng và sử dụng phổ biến trên thế giới, nhiều nhất là ở Bắc Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…

Thu hái, nuôi trồng và dạng sản phẩm

   Do thiên nhiên ưu đãi, vùng Suối Bùn, xã Tiên Hiệp, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, người địa phương còn thu hái nấm Lim xanh tự nhiên. Hiện nay, do phân bố ít trong tự nhiên và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, hầu hết linh chi sử dụng là do nuôi trồng. Và công nghệ canh tác linh chi là một lãnh vực rất lớn trong nông nghiệp.

NẤM LIM XANH 3.jpg

 Đã có gần cả trăm tên sản phẩm của linh chi được đăng ký và đưa ra thị trường quốc tế. Sản phẩm được chế biến từ các bộ phận khác nhau của nấm linh chi. Nhà bào chế có thể dùng cả cây nấm thô, tán bột rồi đóng vào viên nang hoặc viên nén, hay các dược chất như polysaccharides, peptidoglycans, triterpenes chiết xuất từ nấm linh chi hoặc phối hợp thêm các dược liệu khác trong một dược phẩm tổng hợp.

  Mức tiêu thụ trên thế giới hiện nay ước tính khoảng vài nghìn tấn, và thị trường đang phát triển nhanh chóng. Năm 1995, tổng giá trị thị trường thế giới của Linh chi lên đến 1.628 tỷ USD.

  Thành phần, hoạt chất và tác dụng

  Trong 100 gam linh chi có 90 g nước, 1-4 g protein, 0,2-0,8 g chất béo, 0,3-2,8 g carbohydrate, 0,3-3,2 g chất xơ, 0,8-1 g tro, một số vitamin và khoáng chất như kali, canxi, phốt pho, magiê , selen, sắt, kẽm, đồng. Đặc biệt, nấm linh chi có nhiều chất có hoạt tính sinh học (bioactive substance) như terpenoid, steroid, phenol, nucleotide, các glycoprotein và polysaccharides. Protein của nấm linh chi chứa đầy đủ tất cả các axit amin tối cần thiết yếu, giàu lysine và leucine. Chất béo thường là axit béo không no có giá trị cao.

   Polysaccharides, peptidoglycans và triterpenes là ba thành phần sinh dược  chủ yếu của linh chi, trong đó các hoạt chất dược lý gồm acid ganoderic, ganodosteron, germanium, với hàm lượng cao gấp nhiều lần nhân sâm.

(more…)

ĐỂ CON LỚN KHÔN: THƯỢNG TÔN “NGÀY VÀNG”

Tháng Mười Một 14, 2017

FOR CHILD ‘S HEALTHY DEVELOPMENT: RESPECTING BABY ‘S FIRST 1.000 DAYS 

TS.BS Trần Bá Thoại    Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

 Lời bàn  Trẻ em có hai giai đoạn phát triển thể chất, tinh thần vượt trội là “1000 ngày vàng” đầu đời và tuổi dậy thì. Chăm sóc tốt những “ngày vàng” đầu đời là cách tốt nhất giúp trẻ lớn khôn.

1000 NGÀY VÀNG 1

 Tổng quan về phát triển trẻ em

 * Chiều cao, cân nặng

  Trẻ em Việt Nam, tuổi sơ sinh đủ tháng, khỏe mạnh có cân nặng trung bình vào khoảng 3.000g và chiều cao trung bình khoảng 50cm. Nếu được bú mẹ, ăn dặm và nuôi dưỡng đầy đủ chiều cao và cân nặng của đứa trẻ tăng dần, cho đến khi trưởng thành lúc các đĩa sụn tiếp hợp ở các xương dài không còn tăng trưởng ( hóa cốt).

  Trong năm đầu của cuộc đời, sự phát triển thể chất chiều cao, cân nặng,  của trẻ thường chia thành các giai đoạn như sau: (1) quý đầu, trẻ phát triển rất nhanh: tăng cân có thể tăng từ 1.000-1.200g/tháng, chiều dài tăng khoảng 3cm/1 tháng, (2) quý thứ hai, cân nặng tăng từ 400-600g/tháng và chiều dài thường tăng 2-2,5cm/tháng, (3) quý thứ ba, cân nặng của trẻ tăng ít hơn, từ 300-400g/tháng và chiều cao  tăng 2cm/tháng, và (4) quý thứ tư, trọng lượng tăng 300 g/ tháng và chiều cao tăng 1-1,5cm/tháng. Như vậy, đến lúc được 1 tuổi cân nặng của trẻ tăng lên gấp 3 lần lúc sinh (từ 9-10kg) và chiều cao tăng lên gấp 1,5 lần lúc sinh (khoảng 75cm).

   Từ năm 2 đến 5 tuổi, đứa trẻ tăng trưởng chậm hơn, trọng lượng chỉ  còn tăng trung bình từ 2-3kg/năm và chiều cao tăng trung bình từ 5-7cm/ năm. 

1000 NGÀY VÀNG 2

 Bảng cân nặng, chiều cao trẻ em

1000 NGÀY VÀNG 3

 Biểu đồ chiều cao, cân nặng trẻ em

  * Tinh thần, vận động

(more…)

ĐTĐ1.5: LADA (LATENT AUTOIMMUNE DIABETES OF ADULT)

Tháng Mười Một 12, 2017

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1,5: CHẨN TRỊ SỚM, LỢI ÍCH NHIỀU

TS.BS Trần Bá Thoại    Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

http://dantri.com.vn/suc-khoe/dai-thao-duong-15-chan-tri-som-loi-ich-nhieu-20171111212916124.htm

 Dân trí  Trước nay, ĐTĐ thường được xếp thành 4 nhóm là ĐTĐ1, ĐTĐ2, ĐTĐ thai nghén và các ĐTĐ đặc biệt (ĐTĐ3).

 Gần đây, các nhà nội tiết lưu ý một dạng ĐTĐ trung gian giữa thể 1 và 2, là ĐTĐ miễn dịch nhưng khởi bệnh chậm khi bệnh nhân đã lớn tuổi đó là ĐTĐ 1,5.

 Định danh, bệnh sinh các loại đái tháo đường

   Nồng độ đường glucose máu thường được giữ hằng định nhờ đối trọng cân bằng giữa một bên là các  hoóc môn làm tăng glucose thêm với một bên là insulin làm giảm glucose xuống.

   Insulin được sinh tổng hợp từ các tế bào bêta đảo tuyến Langerhans của tụy tạng. Khi các tế bào bêta bị tổn thương hay suy yếu, việc chế tiết insulin không còn thích hợp nồng độ glucose máu tăng  lên con người bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Tùy theo cách tổn thương tế bào bêta tụy, ĐTĐ được chia ra các thể sau: 

  *  ĐTĐ thể 1

  Đái tháo đường thể 1 là bệnh tự miễn mãn tính, trong máu bệnh nhân thường có các tự kháng thể như Kháng thể chống tế bào đảo tụy (Islet Cell Autoantibodies, ICAs), Kháng thể kháng insulin (Insulin AutoAntibodies, IAA), Kháng thể kháng glutamic acid decarboxylase (Glutamic Acid Decarboxylase Autoantibodies, GADA), Kháng thể chống insulinoma associated protein 2 (IA-2A)…Các tự kháng thể này tấn công các tế bào beta của tuyến tụy gây tổn thương và không chế tiết được insulin. Vì tế bào beta bị hư hại không tiết được insulin, bệnh nhân ĐTĐ thể 1 chỉ có một cách điều trị duy nhất là dùng insulin nên trước đây thường gọi là ĐTĐ phụ thuộc insulin (Insulin Dependent Diabetes Mellitus, IDDM) hay ĐTĐ trẻ vị thành niên (Juvenile-Onset Diabetes) vì thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên.

 ĐTĐ thể 2

  Chiếm hơn 90% ĐTĐ ở người lớn. ĐTĐ thể 2 này diễn tiến qua 3 giai đoạn: (1) khởi đầu là tình trạng kháng insulin (insulin resistance), các tế bào cơ thể không đáp ứng tốt với insulin khiến lượng đường glucose máu tăng không tỷ lệ với nồng độ insulin, (2) dần dần càng có nhiều tế bào kháng insulin hơn đường glucose máu bắt đầu gia tăng, giai đoạn của tiền đái tháo đường, và (3) sau nhiều năm tiền đái tháo đường sẽ thành ĐTĐ thâth sự, ĐTĐ 2. Vì bệnh nhân ĐTĐ thẻ 2 này còn có thể dùng thuốc hạ đường máu loại uống nên trước đây còn được gọi là ĐTĐ không lệ thuộc insulin (Non Insulin Dependent Diabetes Mellitus, NIDDM)

 * ĐTĐ thai nghén

(more…)

MÉO CƯỜI, NGỌNG NÓI, XUỘI TAY: ĐÚNG LÀ ĐỘT QUỴ, NHỚ NGAY GIỜ VÀNG!

Tháng Mười Một 1, 2017

“6 GOLD HOURS” FOR SAVING BRAIN IN STROKES

TS.BS Trần Bá Thoại    Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

http://dantri.com.vn/suc-khoe/gio-vang-de-cuu-dot-quy-20171101145555158.htm

 Dân trí  Đột quỵ tuy đứng hàng thứ ba trong các bệnh gây tử vong ở người lớn, sau ung thư và tim mạch. Ở Việt Nam, theo Bộ Y Tế, có hơn 200.000 ca đột quỵ mỗi năm, và tỷ lệ tử vong còn cao do cấp cứu muộn, không tôn trọng “giờ vàng” điều trị.

 Giờ vàng để cứu đột quỵ là gì? Vì sao cần quý, tôn trọng?

 

Hai loại đột quỵ thường gặp

 Đột quỵ (tai biến mạch não, stroke) là tình trạng não bị tổn thương do các bệnh lý gây thiếu máu cấp tính cho hệ thần kinh trung ương, não bộ. Sự thiếu máu đồng nghĩa thiếu oxy và chất dinh dưỡng nếu không được phục hồi sẽ  làm tổn thương và chết các tế bào, neuron, não.

 Có ba nhóm đột quỵ: (1) Tắt mạch máu lên não gây thiếu máu (nhồi máu não, nhũn não) chiếm đến 71% trường hợp đột quỵ, (2) Xuất huyết (vỡ mạch máu não) chiếm 26% và (3) Các nguyên nhân khác chỉ chiếm 3% còn lại.

  Tuổi càng cao, nguy cơ đột quỵ càng lớn càng lớn, hơn 83% số trường hợp đột quỵ là ở lứa tuổi từ 50 trở lên.

  Đột quỵ tuy đứng hàng thứ ba về bệnh gây tử vong ở người lớn, sau ung thư và tim mạch, nhưng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật.

 Thống kê cho thấy, tới 50% số bệnh nhân bị đột quỵ tử vong, 90% bệnh nhân sống sót gặp phải di chứng, và có nguy cơ tái phát. Các di chứng gồm yếu tay, chân; liệt nửa người; nói, viết khó, suy giảm trí nhớ…

 Theo giáo sư Stephen Davis, Chủ tịch Hội Đột quỵ thế giới, mỗi năm toàn cầu có 16 triệu ca đột quỵ và khoảng 6 triệu ca tử vong.

  Ở Việt Nam, theo Bộ Y Tế, có hơn 200.000 ca đột quỵ /năm, trong đó nhồi máu não chiếm 70-80% và tỷ lệ tử vong còn cao do đến muộn.

 Thời gian “vàng” để cứu người bị đột quỵ

  Các tế bào thần kinh, neuron, rất nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy và dưỡng chất, khi bị đột quỵ, vùng não thiếu máu nuôi sẽ ngưng hoạt động rồi “chết” đi trong vòng vài giây đến vài phút. Trong đột quỵ do tắc động mạch lớn, cứ qua 1 phút có khoảng 2 triệu neuron sẽ chết đi.

  Mức độ di chứng phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm và cách thức bệnh nhân được phát hiện, chẩn đoán và điều trị. Nếu bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện trong 3 giờ đầu ngay sau khi bị đột quỵ, và được điều trị thuốc làm tan huyết khối, sự phục hồi sẽ rất khả quan.

   Theo GS. Nguyễn Văn Thông, nguyên Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện 108, có rất ít bệnh nhân bị đột quỵ được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết đúng cách trước khi đến bệnh viện. Kiến thức về “giờ vàng” (3-4 giờ đầu từ khi khởi phát đột quỵ) đối với bệnh nhân chưa được thông tin, nắm bắt nên hậu quả để lại là một gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội.

ĐỘT QUỴ 2.jpg

  Tại buổi tư vấn “Đừng gục ngã vì đột quỵ”, do Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM tổ chức sáng 29-10, TS.BS Nguyễn Bá Thắng, Trưởng đơn vị đột quỵ cho biết nguyên tắc mọi người cần phải nằm lòng là  “Càng mất thời gian là càng mất não”

  Đôi điều bàn luận

   Với sự tiến bộ của y học, tỷ lệ tử vong do đột quỵ đã giảm so với trước đây rất nhiều. Phương pháp can thiệp nội mạch được Hội Đột quỵ Hoa kỳ đưa vào điều trị năm 2015 được nhiều nước áp dụng. Tại Việt Nam, người bệnh tắc nghẽn động mạch lớn, can thiệp nội mạch cho hiệu quả đến 80%.

  Tuy nhiên, việc cấp cứu can thiệp nội mạch chỉ có hiệu quả nếu được tiến hành sớm, sau 6 giờ việc tái thông mạch máu không còn tác dụng. Do đó, khi có bệnh nhân đột quỵ, tốt nhất là đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất theo phương châm của TS.BS Nguyễn Bá Thắng: “Méo cười, ngọng nói, xuội tay. Mau gọi cấp cứu đi ngay đừng chờ”.

  Tuyệt đối: (1) không dùng thuốc hạ áp uống hay ngậm dưới lưỡi khi chưa biết đột quỵ loại gì, (2) không cho bệnh nhân ăn uống để đề phòng nôn ói, trào ngược thức ăn vào đường thở, và (3) không nên cố gắng sơ cứu theo thói quen, đặc biệt dùng những thủ thuật “dân gian”, thuốc nam mách miệng… sẽ hao phí thời gian vàng để cứu bệnh nhân. 

(more…)

THỪA IỐT: CƯỜNG GIÁP BASEDOW ĐẤY !

Tháng Mười 27, 2017

TOO MUCH IODINE INTAKE MAY CAUSE JOD-BASEDOW HYPERTHYROIDISM

TS.BS Trần Bá Thoại    Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

http://dantri.com.vn/suc-khoe/thua-iot-coi-chung-bi-cuong-giap-basedow-20171029051015287.htm

   Lo ngại tình trạng ăn thiếu iốt, Bộ Y tế ra nghị định 09/2016/NĐ-CP và hướng dẫn từ 15-3-2017, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm đều phải sử dụng muối có bổ sung iốt vào tất cả thành phẩm.

  Các nhà sản xuất cho rằng việc thay muối có iốt này sẽ làm tăng giá thành, chất lượng sản phẩm giảm vì hương vị, màu sắc.v.v…. Về lãnh vực dinh dưỡng và y học thì sao ? 

 

 Tổng quan về tuyến giáp

 Tuyến giáp nằm ngay dưới thanh quản và trước khí quản. Đây là tuyến nội tiết lớn nhất, quan trọng nhất vì hormone tuyến giáp chi phối nhiều quá trình chuyển hóa trong cơ thể con người.

  Các hormone tuyến giáp có nhiều tác dụng: (1) tăng chuyển hóa chung của cơ thể, (2) thúc đẩy phát triển, trưởng thành về thể chất lẫn tinh thần, (3) tác dụng lên chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein, (4) tác dụng trên các hệ thống tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, nội tiết, sinh dục…Do đó, trẻ bị suy giáp trong thời kỳ bào thai và những năm đầu sau sinh sẽ bị bệnh đần độn (cretinism), lùn và chậm, trì trệ thần kinh; người cường giáp thường kèm theo bệnh tim mạch, đái tháo đường…

 Iốt rất cần cho tuyến giáp

(more…)

TẠI SAO NGƯỜI BÉO PHÌ DỄ BỊ UNG THƯ?

Tháng Mười 25, 2017

HOW MIGHT OBESITY INCREASE THE RISK OF CANCER?

TS.BS Trần Bá Thoại    Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

http://dantri.com.vn/suc-khoe/tai-sao-beo-phi-de-bi-ung-thu-20171026054608159.htm

Dân trí  Hiện nay, béo phì đang gia tăng như một bệnh dịch. Béo phì liên quan đến một loạt các bệnh lý khác ở cả hệ thống nội tiết, tim mạch, tiết niệu, hô hấp…

  Trong khi tương quan giữa béo phì với đái tháo đường, tăng huyết áp và bệnh tim mạch rất được chú ý, thì mối liên hệ giữa béo phì và ung thư lại ít được lưu tâm.

 

THẾ NÀO LÀ UNG THƯ

  Cơ thể con người cấu thành từ hàng tỷ tế bào sống. Những tế bào này phát triển, phân chia và chết đi theo trật tự có kiểm soát: Trẻ em tế bào đang tăng trưởng, các tế bào phân chia nhanh chóng.Người trưởng thành, hầu hết các tế bào chỉ phân chia để thay thế tế bào hao mòn, chết hoặc để sửa chữa thương tích mà thôi.

   Axit nhân DNA trong nhân tế bào chỉ đạo tất cả các hoạt động của tế bào, tăng trưởng, tử vong, tổng hợp protein … Khi DNA bị hỏng, các tế bào cơ thể phát triển vượt khỏi tầm kiểm soát thường lệ và chúng trở thành tế bào ung thư. Các tế bào ung thư phát triển, tăng trưởng khác với tế bào bình thường: nó không chết đi, mà tiếp tục phát triển mạnh và hình thành các tế bào ung thư mới. Ngoài ra, các tế bào này cũng có thể xâm nhập, di căn, đến các mô khác và vẫn phát triển thêm ở các vị trí mới này, ví dụ ung thư vú có thể chạy vào hạch, phổi.v.v…

NGUYÊN NHÂN UNG THƯ

  Ung thư có nhiều nguyên nhân và yếu tố nguy cơ khác nhau tùy theo sinh học và sinh lý bệnh của nó. Axit nhân DNA có thể bị tổn thương kế thừa từ cha mẹ hoặc tự phát trong suốt đời người do đột biến. Tổn thương DNA cũng có thể xảy ra khi con người phơi nhiễm với một số yếu tố, độc chất từ môi trường sống. Nói chung, khó xác định nguyên nhân và thời điểm chính xác các yếu tố nguy cơ tác động lên con người.

  Đột biến gene

(more…)

ARISTOLOCHOLIC ACID TRONG THUỐC BẮC GÂY UNG THƯ GAN (tiếp theo)

Tháng Mười 24, 2017

TBT Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng axit aristolochic (AA) một hợp chất tự nhiên trong một số vị thuốc đông y – có liên quan với ung thư gan.

THUỐC BẮC 1

Axit aristolocholic là thủ phạm gây ung thư 

 Bài báo  “Axit aristolochic và dẫn chất có vai trò lớn trong ung thư gan ở Đài Loan và khắp Châu Á”, của các nhà nghiên cứu Singapore và Đài Loan công bố ngày 18/10/2017 trên tạp chí Science Translational Medicine, chỉ rõ rằng axit aristocholic AA gây ra đột biến gen dẫn đến ung thư gan.

  Nhóm nghiên cứu do GS Steven Rozen thuộc trường Y Duke-NUS đứng đầu đã xem xét trình tự ADN của 98 bệnh nhân ung thư gan được phát hiện tại Đài Loan. Sau đó họ phân tích các đột biến ở những bệnh nhân này. Kết quả cho thấy có đến 78% đột biến do AA.

GS Hsieh Sen-Yung thuộc bệnh viện Chang Gung Memorial tại Đài Loan, giải thích rằng việc tiếp xúc với AA đã được ghi nhận nhiều ở Đài Loan từ các vị thuốc đông y. Sau khi phân tích ADN của các bệnh nhân ung thư gan, nhóm nghiên cứu đã xem xét dữ liệu đột biến từ 1.400 bệnh nhân ung thư gan trên toàn thế giới, bao gồm các trường hợp ung thư gan từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, các vùng khác ở Đông Nam Á, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, và nhiều vùng của Bắc Mỹ. Kết quả cho thấy, có liên quan giữa hợp chất AA và ung thư gan.

Axit aristolocholic có ở đâu? 

 Axit aristolochic là một chất gây đột biến có liên quan đến ung thư thận và các bệnh về đường niệu ở Đài Loan. Hợp chất này có liên quan với tổn thương nghiêm trọng ở thận gây ra bệnh thận Balkan, phát hiện ở Bosnia, Bulgaria, Croatia, Romania và Serbia. 

Axit aristolochic là một hợp chất tự nhiên được tìm thấy trong cây Aristolochia (họ Mộc hương) và Asarum (chi Tế tân). Có gần 500 loài Aristolochia, trong số đó rễ và thân cây của gần 100 loài này được sử dụng trong các bài thuốc Đông y dưới dạng thuốc sắc.

  Trong thuốc Bắc, Trung Quốc, truyền thống, axit aristolochic thường được dùng  trong sản khoa để ngăn ngừa ký sinh trùng, tăng cường sức khỏe, giảm cân và điều trị mất ngủ.

 Châu Âu đã cấm AA vào 2001 và Singapore vào năm 2004. Đài Loan cũng đã cấm các thảo dược chứa AA từ năm 2003. Các cơ quan quản lý thuốc của Trung Quốc và Mỹ đã hạn chế việc sử dụng kèm theo cảnh báo cho người dùng. Các nhà nghiên cứu cho biết những trường hợp ung thư gan là hệ quả của việc sử dụng hợp chất AA này diễn ra từ lâu trước khi có lệnh cấm. 

http://www.dailymail.co.uk/health/article-4994378/Across-Asia-liver-cancer-linked-herbal-remedies-study.html

http://dantri.com.vn/suc-khoe/tim-ra-hoat-chat-trong-thuoc-dong-y-lien-quan-voi-ung-thu-gan-20171024040250677.htm 

MÔ MỠ LÀ MỘT TUYẾN NỘI TIẾT !

Tháng Mười 21, 2017

ADIPOSE TISSUE IS AN ENDOCRINE ORGAN !

TS.BS Trần Bá Thoại   Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

http://dantri.com.vn/suc-khoe/mo-mo-la-mot-tuyen-noi-tiet-20171022055309061.htm

Dân trí  Trước nay, mô mỡ thường được xem kho chứa chất béo, dạng dự trữ năng lượng cho cơ thể, đơn thuần. Nhưng gần đây, nhiều nhà khoa học của các trung tâm nghiên cứu lớn trên thế giới đều thống nhất rằng “Mô mỡ cũng là một tuyến nội tiết” liên quan đến nhiều chức năng, căn bệnh trong cơ thể người… 

 

  Khác biệt tuyến ngoại và nội tiết

  Tuyến là một tập hợp một nhóm tế bào tạo thành một nang với cùng chức năng là chế tiết ra các chất sinh học. Tùy theo tính chất và cách thức chế tiết, nang tuyến  được chia làm hai loại: (1) tuyến ngoại tiết: chất tiết thường chứa nước, các enzyme, chất khoáng, chất nhầy nhớt theo ống dẫn trực tiếp đến cơ quan mà không ngấm vào máu. Các chất sinh học trong dịch ngoại tiết không tác động trên tế bào sống mà thường tác dụng trên sinh chất trong quá trình tiêu hóa, dinh dưỡng, thải bã, thải độc..(2) tuyến nội tiết: chất tiết là những hormone (nội tiết tố) được chế tiết vào máu và được đưa đến các cơ quan đích còn sống để điều hòa các quá trình trao đổi và chuyển hóa vật chất thông qua các enzyme tại đây.

 Vì các hormone có tác dụng trên các mô tế bào sống, qua trung gian các enzyme, nên một tuyến nội tiết bao giờ cũng có cơ chế feedback (hồi chỉnh, phản hồi ngược) để điều hòa hoạt động của nó, giữ cho hệ thống nội tiết của cơ thể luôn luôn đạt trạng thái cân bằng động (homeostasis).

TRỤC YÊN-TUYẾN NỘI TIẾT

  Mô mỡ là một tuyến nội tiết

  Năm 1987, người ta đã biết mô mỡ trắng sản xuất các steroid sinh dục và adipsin, một yếu tố nội tiết làm giảm cân rõ ở loài gặm nhấm bị béo phì. Đến năm 1994, leptin được phát hiện, khẳng định mô mỡ trắng như một cơ quan nội tiết.

  Đến nay, các nhà khoa học phát hiện mô mỡ trắng chế tiết khá nhiều hormone peptide khác nhau. Đây là những adipokine có nhiều tác dụng tại chỗ cũng như toàn thân. Trong các hormone này, leptin và adiponectin đang được quan tâm nghiên cứu hơn cả, đặc biệt trên các đối tượng thừa cân, béo phì, đái tháo đường.

(more…)